TIN TỨC & SỰ KIỆN
Tin tức   Khoa học Tự nhiên & Công nghệ 06:21:18 Ngày 24/10/2019 GMT+7
Nâng cao giáo dục tại vùng Tây Bắc bằng công tác đánh giá tác động của các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
Đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 - 2015 trên địa bàn Tây Bắc” của nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một trong những chương trình khoa học và công nghệ phát triển bền vững vùng Tây Bắc.

Các chương trình mục tiêu quốc gia

Đến nay, Việt Nam có 16 chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo. Từ năm 2011 đến nay, các chương trình mục tiêu quốc gia giúp nước ta thực hiện nhiều mục tiêu an sinh xã hội và mục tiêu thiên niên kỷ, tạo điều kiện để nước ta xóa đói, giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân những vùng kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, các chương trình còn dàn trải, phân tán, số lượng chương trình không tương thích với nguồn lực. Vì vậy, Chính phủ quyết định đánh giá, thu hẹp bớt các chương trình nên nguồn lực cho các chương trình giảm mạnh.

Nhóm tác giả đã lựa chọn vùng Tây Bắc để thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo, vì những địa bàn này thuộc vùng núi cao biên giới, địa hình hiểm trở phức tạp, có vị trí chiến lược quan trọng với sự ổn định và phát triển của đất nước. Vùng Tây Bắc thuộc phạm vi chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Tây Bắc gồm 12 tỉnh và 21 huyện phía Tây của hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Địa bàn sinh sống trên 11,6 triệu nguời thuộc hơn 30 dân tộc anh em. Vùng Tây Bắc có trình độ kinh tế phát triển chậm, dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu. Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm cho vùng Tây Bắc. Nhiều chiến lược, chính sách chương trình mục tiêu quốc gia ban hành tạo không gian pháp lý và điều kiện vật chất cần thiết hướng tới sự thay đổi đời sống kinh tế - xã hội cho cộng đồng các dân tộc vùng Tây Bắc. Chính vì thế, Đề án Tây Bắc được thành lập để xác định những tác động tích cực và hạn chế trong quá trình thực hiện Nghị quyết 37, đồng thời xây dựng những căn cứ khoa học cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, Chính phủ chỉ đạo thành công mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết 37 và kết luận 26 của BCH Trung ương đến năm 2020. Đề án đánh giá tác động, tính hiệu quả của việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo là một trong những chương trình đó.

 

Nhưng đến nay chưa có chương trình, dự án hay đề tài nào thực hiện đánh giá tổng thể và toàn diện tính hiệu quả, đặc biệt đánh giá tác động của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo. Ngành giáo dục nhận thấy chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đã có tác động tích cực với tỷ lệ huy động, tính bình đẳng và chất lượng giáo dục. Đây là tiền đề đặc biệt quan trọng để nâng cao chất lượng ngồn nhân lực nước nhà. Vì vậy, hiệu quả kinh tế xã hội từ đầu tư cho giáo dục qua chương trình mục tiêu quốc gia là rất lớn và có tác động lan tỏa rộng. Sự tác động này không chỉ dừng lại ở việc tăng thu nhập của người lao động mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia.

Đối với các đánh giá liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cho thấy Việt Nam đã tiến hành đánh giá thông qua các cuộc khảo sát quốc gia theo PISA để xác định năng lực học tập của học sinh Việt Nam so với các nước khác, trên cơ sở đó xem xét các vấn đề tác động của chương trình dạy học, chất lượng giáo viên, các điều kiện đảm bảo cho cải thiện năng lực học tập của học sinh.

Nhóm tác giả nhận thấy đánh giá về lý luận sẽ bổ sung, làm phong phú lý luận về đánh giá trong giáo dục nói chung và đánh giá tác động các chương trình hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo nói riêng. Khái quát hóa việc xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc nhằm đề xuất mục tiêu, nội dung và các giải pháp thực hiện cho chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn từ 2016-2020. Về thực tiễn, đề tài sẽ phác họa bức tranh tổng thể và tính hiệu quả những bài học thực tiễn sinh động của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đã thực hiện từ năm 2005-2015. Và tiến hành đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi cho chương trình những năm còn lại của giai đoạn 2012-2015 và những năm tiếp sau đến 2020. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa ở các tỉnh vùng Tây Bắc mà còn là tiền đề triển khai đánh giá hiệu quả việc thực hiện chương trình tại các tỉnh và vùng khác trong nước.

Xu hướng đánh giá tác động

Trong quá trình nghiên cứu và tham khảo các chương trình đánh giá tác động, nhóm nghiên cứu nhận thấy một đánh giá tác động cần đưa ra nhận định về các lĩnh vực, cụ thể là sự phù hợp của chương trình; ảnh hưởng của chương trình; hiệu quả và sự bền vững của chương trình.

Qua nghiên cứu về phương thức đánh giá chương trình của Hoa Kỳ, Pháp, Hà Lan, Trung Quốc… nhóm tác giả đã xác định đuợc ba xu hướng chung về đánh giá chương trình giáo dục phổ thông trên thế giới. Thứ nhất là, quy mô, dạng thức tổ chức đánh giá chương trình ngày càng đa dạng để phác họa được bức tranh hoàn chỉnh theo chiều dọc, từ ý tưởng thiết kế chương trình đến quá trình thực hiện và kết quả theo nghĩa rộng – tác động tích cực, nâng cao hiệu quả của chương trình. Đồng thời chỉ ra các khía cạnh có vấn đề để giúp các nhà phát triển chương trình ra quyết định cải thiện chương trình; tạo cơ hội liên kết các dữ liệu, từ cấp độ vi mô đến cấp vĩ mô.

Xu hướng này được thể hiện cụ thể qua các dạng thức tổ chức sau: Đánh giá không chỉ nhằm xác định chất lượng, hiệu quả của văn bản chương trình mà còn phân tích, đánh giá tất cả sản phẩm có liên quan, tình hình thực hiện chương trình trong thực tiễn và các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện đó.

Đánh giá chương trình môn học thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình triển khai để điều chỉnh và so sánh mức độ khó với các đối tượng liên quan giữa các năm học. Đánh giá chương trình tổng thể được thực hiện định kỳ, sau khi đã triển khai chương trình ổn định một khoảng thời gian nhất định để thông tin chính xác, khách quan.

Các cuộc đánh giá quốc gia, nhà trường, thi, đánh giá trên lớp cùng các phương pháp phân tích tài liệu, phỏng vấn, quan sát bài học, nghiên cứu truờng hợp điển hình… đều tập trung cung cấp tình hình thực hiện chương trình ở nhà trường và kết quả thực hiện ở những khía cạnh khác nhau.

Các nghiên cứu đánh giá quốc tế như IEA, TIMSS, PISA… một mặt tập trung đo lường kết quả học tập môn học hoặc mức độ phát triển năng lực để đạt các mục tiêu tương tự đánh giá quốc gia đã nêu; mặt khác chú ý phân tích điểm mạnh, điểm yếu của chương trình nói riêng, của hệ thống giáo dục phổ thông mỗi quốc gia nói chung.

Thứ hai là, tích hợp đánh giá quá trình vào mô hình phát triển chương trình và tăng cường sử dụng đánh giá quá trình trong thực hành. Cụ thể, kỹ thuật hóa việc xác định mục tiêu giáo dục và mục tiêu của chương trình, chuẩn hóa các nhiệm vụ của chương trình, tăng cường thực nghiệm khoa học, đánh giá tính phù hợp, đáp ứng mục tiêu chương trình phù hợp với bối cảnh, nhu cầu người học và nhu cầu đất nước, nội dung giáo dục phù hợp với mục tiêu và chuẩn; phương pháp giáo dục phù hợp với nội dung và thời lượng giáo dục…; đánh giá tính hiệu quả của chi phí.

Thứ ba là, đánh giá chương trình ngày càng được tiến hành một cách chuyên nghiệp, thông qua việc ban hành những cơ chế, thể chế, hướng dẫn họat động đánh giá.

Cùng sự phát triển về kinh tế xã hội, lĩnh vực giáo dục ngày càng có tầm quan trọng vì vậy việc tổ chức đánh giá toàn diện về chương trình giáo dục tại Việt Nam cần được thực hiện. Công tác này thực hiện từ quá trình xây dựng chương trình đến thực hiện chương trình và kết quả đầu ra cũng như tác động, hiệu quả của chương trình theo hướng tiến hành đánh giá trong quá trình xây dựng chương trình; tiến hành đa dạng các cuộc đánh giá trong quá trình thực hiện chương trình với quy mô, tính chất và mục đích khác nhau; tiến hành đánh giá tổng kết chương trình ở tất cả các cấp học vào cuối chu trình phát triển để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định tiếp tục triển khai hoặc thay thế bằng chương trình khác; công bố kết quả đánh giá cho toàn xã hội và sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá chương trình.

Công tác đánh giá cần tập trung nghiên cứu tích hợp các phương pháp, kỹ thuật đánh giá vào quá trình phát triển chương trình. Bên cạnh đó cần quan tâm, chú trọng hơn đến tính chuyên nghiệp hóa trong họat động đánh giá chương trình.

Sự quan trọng trong công tác đánh giá tác động của chương trình

Đánh giá là việc xác định thông tin, dữ liệu mang tính hệ thống tới mức tối đa về một chương trình hay dự án đang tiến hành hay đã hoàn thành so với thiết kế, quá trình thực thi, kết quả đầu ra và tác động của dự án đó. Tác động là những thay đổi có được do ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực lâu dài được tạo ra đối với người hưởng lợi và môi trường xung quanh của họ về kỹ thuật, kinh tế…

Từ đó, nhóm tác giả cho rằng đánh giá tác động của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo là quá trình đưa ra nhận định về sự phù hợp, những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực, hiệu quả, sự bền vững của các chương trình này tạo ra so với mục tiêu đặt ra ban đầu, làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định tiếp theo.

Với tầm quan trọng của công tác đánh giá như vậy, các nước trên thế giới hết sức quan tâm đến đánh giá tác động không chỉ trong giáo dục đào tạo mà còn tất cả lĩnh vực khác của đời sống xã hội.Các tổ chức hỗ trợ phát triển trên thế giới triển khai hầu hết các quốc gia ngoài việc tính đến kết quả của quá trình tác động còn tính đến sự ảnh hưởng của các tác động đó đến toàn bộ tiến trình phát triển xã hội cũng như từng lĩnh vực cụ thể.

Phương pháp được đề cập nhiều nhất là RIA, đầu tiên được coi là “đánh giá tác động lạm phát” theo yêu cầu của Cục Quản lý Carter tại Hoa Kỳ năm 1978. Nước áp dụng yêu cầu RIA sớm nhất là Australia vào năm 1985. Đến giữa những năm 1990 đã có khoảng 12 quốc gia OECD thực hiện các yêu cầu RIA dưới một số hình thức và sự điều chỉnh phạm vi phân tích tác động. Năm 2000, có 20/28 quốc gia OECD thực hiện các yêu cầu RIA. Tại Việt Nam, vào năm 2005 Ngân hàng thế giới đã trình bày một số nội dung liên quan đến RIA.

Về đánh giá chương trình các nghiên cứu cho thấy là một phương pháp có hệ thống thu thập, phân tích và sử dụng thông tin để trả lời câu hỏi về dự án, chính sách… trong đó đặc biệt chú trọng về hiệu quả và tác động của chương trình. Mỗi giai đoạn khác nhau sẽ có những câu hỏi, phương pháp tiếp cận và phương pháp đánh giá tương ứng khác nhau. Thực tế chứng minh năm 2004, Rossi, Lipsey và Freeman đưa ra các loại đánh giá thích hợp ở những giai đoạn khác nhau, cụ thể đánh giá sự cần thiết của chương trình, đánh giá thiết kế chương trình về logic/lý thuyết, đánh giá chương trình đang được thực hiện như thế nào… Trong khi đó, năm 1960 Daniel Stufflebeam và các đồng nghiệp đã xây dựng mô hình CIPP trong đánh giá là bối cảnh, đầu vào, quá trình và sản phẩm. Phương pháp này ra quyết định tập trung vào đánh giá và nhấn mạnh việc cung cấp hệ thống thông tin cho quản lý chương trình và hoạt  động. Trên thế giới, có nhiều các chương trình lớn về lĩnh vực giáo dục đã thực hiện đánh giá tác động như chương trình quản lý dựa vào nhà trường và lớp học của Ngân hàng thế giới; đánh giá tác động của các chương trình/ dự án hỗ trợ phát triển các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương…

Còn tại Việt Nam giáo dục có vai trò chủ yếu trong việc phát triển nguồn lực con người – nền tảng và động lực thực hiện công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đồng thời là nhân tố quyết định đảm bảo kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Giáo dục ở các vùng khó khăn, miền núi như địa bàn Tây Bắc giúp các em có trình độ dân trí tối thiểu có khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng cần thiết đồng thời còn góp phần hình thành nhân cách con nguời, xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho mọi người. Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo ở các địa phương, đặc biệt vùng núi, vùng sâu và có nhiều khó khăn là một trong những định hướng chính về phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu có đánh giá tác động ở những lĩnh vực khác nhau với địa bàn Tây Bắc. Có thể kể đến nghiên cứu của tác giả Đỗ Hoài Nam (2004-2005) thực hiện điều tra tổng hợp vùng kinh tế - lãnh thổ Tây Bắc. Dự án xây dựng khung chính sách phát triển bền vững về môi trường của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (2011) phân tích đặc tính sinh thái của các vùng ở Việt Nam, thử nghiệm cho các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Tác giả Lưu Đàm Cư vào năm 2007 đã tiến hành thực hiện đánh giá, điều tra thực trạng tài nguyên sinh vật khu vực Tây Bắc đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội cho vùng.

Còn đối với đánh giá liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo Việt Nam đã tiến hành đánh giá thông qua các cuộc khảo sát quốc gia theo PISA để xác định năng lực học tập của học sinh Việt Nam so với các nước khác, chất lượng giáo viên, các điều kiện đảm bảo cho cải thiện năng lực học tập của học sinh. Các khảo sát như khảo sát kết quả học tập môn Toán, tiếng việt lớp 5 năm học 2000-2001 và 2006-2007; khảo sát kết quả học tập môn Toán, Ngữ văn học sinh lớp 6 năm 2008-2009… Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện đánh giá kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn 2006-2010 trong phạm vi đổi mới chương trình và thay sách giáo khoa mới đại trà ở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Bộ GD&ĐT đã có báo cáo sơ kết 3 năm (2011-2013) về việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo chỉ rõ một số kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu năm 2011, 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 cùng phương hướng thực hiện năm 2013 về một số dự án. Tuy nhiên các đánh giá đó chưa cụ thể và cho đến nay vẫn chưa có sự đánh giá tổng thể, toàn diện và đặc biệt cũng chưa xác định được tác động và tính hiệu quả của chương trình.

Sau khi nhóm tác giả nghiên cứu và khẳng định đánh giá tác động chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo có tầm quan trọng đối với lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án thành phần của chương trình gồm hỗ trợ phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, xóa mù chữ và chống tái mù chữ, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi và hỗ trợ phổ cập giáo dục trung học; tăng cường dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân; hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng khó khăn, hỗ trợ cơ sở vật chất trường chuyên, sư phạm; nâng cao năng lực cán bộ quản lý chương trình và giám sát, đánh giá thực hiện chương trình; cùng 02 dự án triển khai năm 2011 gồm đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học triển khai năm, tăng cường năng lực đào tạo các cơ sở giáo dục.

Sau quá trình thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả đã xây dựng khung lý luận cơ bản về đánh giá tác động của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo trên địa bàn Tây Bắc, để đưa ra những chính sách, chiến lược phát triển lĩnh vực giáo dục. Cụ thể, quy trình đánh giá tác động của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo; khung đánh giá tác động chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo vùng Tây Bắc; tập trung nghiên cứu 06 nội dung nghiên cứu cơ bản (nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận về đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo; xây dựng khung đánh giá tác động và tính hiệu quả của các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo; nghiên cứu xác lập hiện trạng triển khai các nội dung chính của các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo trên địa bàn Tây Bắc; phân tích thực trạng, đánh giá tác động tích cực, tiêu cực và xác định nguyên nhân thành công và tồn tại trong xây dựng và phát triển, đánh giá tính hiệu quả theo mục tiêu của các chương trình; nghiên cứu lựa chọn 01 dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005-2015 đang triển khai trên địa bàn Tây Bắc để thực hiện đánh giá giữa kỳ; nghiên cứu đề xuất và hoàn thiện giải pháp khả thi cho việc xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo trên địa bàn Tây Bắc trong giai đoạn 2016-2020).

Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất 09 giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo trên địa bàn Tây Bắc trong giai đoạn tiếp theo, bao gồm: tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và tổ chức, chỉ đạo của chính quyền về phát triển giáo dục và đào tạo vùng Tây Bắc; rà soát quy hoạch mạng lưới trường học và đầu tư chuẩn hóa cơ sở vật chất trường, lớp học vùng Tây Bắc; tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi, tiểu học và THCS các xã đặc biệt khó khăn; đẩy mạnh dạy tiếng việt cho học sinh là con em các dân tộc thiểu số, tăng cường năng lực cho các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường Phổ thông dân tộc bán trú vùng Tây Bắc; xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo vùng Tây Bắc; gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh và cả vùng Tây Bắc; thực hiện và bổ sung, điều chỉnh các chính sách trọng tâm, đặc thù đối với vùng Tây Bắc; duy trì và phát triển văn hóa các dân tộc, địa phương vùng Tây Bắc sau khi các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo vùng Tây Bắc kết thúc; nâng cao năng lực quản lý và tự chủ của các đơn vị thụ hưởng đối với giáo dục và đào tạo sau khi các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo vùng Tây Bắc kết thúc.

Thách thức nghiên cứu đánh giá tác động chương trình mục tiêu quốc gia

Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn nhiều thách thức mà nhóm tác giả gặp phải trong quá trình thực hiện đề tài. Về giáo dục mầm non, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở các vùng nông thôn, các vùng địa lý – kinh tế khó khăn và có sở vật chất trang thiết bị của các cơ sở giáo dục mầm non chưa đáp ứng yêu cầu tiếp cận bền vững và đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non. Tuy được sự quan tâm lớn của nhà nước nhưng tỷ lệ trẻ đến trường giữa các vùng khác nhau , chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở các vùng nông thôn, khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu. Mạng lưới nhân sự còn mỏng, cơ sở hạ tầng chưa thực sự tốt để huy động được trẻ ra lớp đồng đều, cơ hội đến truờng của trẻ em miền núi, vùng  sâu vùng xa bị hạn chế. Việc bố trí ngân sách thực hiện phổ cập gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non thiếu về số lượng và chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý chậm đổi mới, chất lượng thấp. Việc thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục mầm non mới có khó khăn. Công tác phối hợp liên ngành thực hiện mục tiêu về giáo dục mầm non còn yếu và chưa được thể chế hóa, việc phổ biến kiến thức đến các hộ gia đình chưa đẩy mạnh.

Đối với giáo dục tiểu học và THCS còn sự khác biệt giữa vùng miền, sự phân biệt giới đã được giải quyết về căn bản nhưng tình trạng bất bình đẳng giới vẫn chậm khắc phục, tập quán văn hóa lâu đời đang cần đuợc từng bước cải thiện. Giáo dục trẻ khuyết tật, mặc dù đã được chú ý và đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn cần họat động tuyên truyền rộng rãi để nâng cao nhận thức cộng đồng và khả năng, nhu cầu, quyền bình đẳng về cơ hội phát triển, đóng góp xã hội. Tại các địa phương có khó khăn về địa lý vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, cản trở việc đi lại của các em… các địa phương đã xây dựng những điểm trường gắn với các khu dân cư, xây dựng trường nội trú dân nuôi, tuy vậy tỷ lệ huy động vẫn chưa đạt như mong muốn do một số trẻ em phải lao động, phụ giúp gia đình. Toàn quốc đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2014, phổ cập giáo dục THCS năm 2010, tuy nhiên để duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS đòi hỏi cần sự quan tâm và đầu tư hơn nữa của chính quyền địa phương, nhà trường.

Đối với giáo dục xóa mù chữ năm 2012, tỷ lệ biết chữ của thanh niên (15-25 tuổi) với đồng bào dân tộc thiểu số là 73,1%. Còn chênh lệch giới trong công tác xóa mù chữ cho người lớn từ 15 tuổi trở lên. Thống kê cho thấy việc cải thiện mức độ biết chữ cho thanh niên và người lớn mặc dù đã có tiến bộ nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2020. Một số địa phương công tác xóa mù chữ chưa được cấp chính quyền thực sự quan tâm. Sự chỉ đạo của chính quyền các cấp và ngành giáo dục ở các địa phương đối với công tác xóa mù chữ không còn thực sự ráo riết, quyết liệt như trước năm 2000. Vì vậy, hiệu quả xóa mù chữ không cao, kết quả xóa mù chữ không bền vững, hiện tượng tái mù chữ gia tăng đáng kể. Tuy tỷ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên có tăng đều từ năm 2002-2012 song số lượng nguời mù chữ từ 15 tuổi trở lên trong mười năm hầu như không thay đổi luôn tồn tại khoảng 7,4 triệu người mù chữ. Trong khi đó tỷ lệ huy động người mù chữ tham gia học xóa mù chữ thấp. Công tác xóa mù chữ triển khai chưa thật sự hiệu quả. Số người mù chữ hiện nay chủ yếu là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, địa bàn sinh sống… Chế độ, chính sách đối với với giáo viên, cán bộ làm công tác xóa mù chữ và học viên học xóa mù chữ chưa có sự điều chỉnh thích hợp để động viên, khuyến khích người dạy, người học. Công tác điều tra cơ bản số người mù chữ hằng năm của các địa phương chưa được coi trọng. Đội ngũ giáo viên thiếu tính chuyên nghiệp. Chưa đầu tư nghiên cứu, biên soạn các tài liệu dạy và học xóa mù chữ phù hợp với từng vùng miền và đối tượng người học xóa mù chữ. Sự phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể trong công tác xóa mù chữ ở một số địa phương chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên và hiệu quả.

Trong thời gian tới, nhóm tác giả sẽ nâng cao hiệu quả dự án bằng việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, về ý nghĩa, tầm quan trọng của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo, đặc biệt là chương trình phổ cập giáo dục trong hệ thống chính trị - xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến dự án. Đẩy mạnh và tiếp tục thực hiện tốt các nội dung phổ cập giáo dục. Tăng cường đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành.

 

 Thanh Ngân - VNU Media
   In bài viết     Gửi cho bạn bè
  Từ khóa :
   Xem tin bài theo thời gian :
TRÊN WEBSITE KHÁC
THĂM DÒ DƯ LUẬN
Bạn sẽ thi vào trường đại học nào?
  • Khoa Quản trị Kinh doanh
  • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
  • Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
  • Trường Đại học Ngoại ngữ
  • Trường Đại học Công nghệ
  • Trường Đại học Kinh tế
  • Trường Đại học Giáo dục
  • Khoa Luật
  • Khoa Quốc tế
  • Khoa Y Dược