VNU Logo

Bản tin văn bản quy phạm pháp luật tháng 7/2026

Trong tháng 7 năm 2026, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động trong Đại học Quốc gia Hà Nội trong các lĩnh vực. Nội dung tóm tắt các văn bản như sau:

I. Nghị định số 271/2026/NĐ-CP ngày 03/7/2026 của Chính phủ quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp (Có hiệu lực từ 03/7/2026)

1. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 03 tháng 7 năm 2026.

2. Sự cần thiết, mục đích ban hành

2.1. Sự cần thiết ban hành

a) Cơ sở chính trị

- Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo chỉ đạo: Rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm cung cấp một bộ SGK thống nhất toàn quốc, phấn đấu tới năm 2030 cung cấp miễn phí SGK cho tất cả học sinh.

- Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Bộ GDĐT: Rà soát, hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ thông, tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật; bảo đảm cung cấp một bộ SGK thống nhất toàn quốc sử dụng từ năm học 2026 - 2027; thực hiện lộ trình đến năm 2030 cung cấp miễn phí SGK cho tất cả học sinh.

b) Cơ sở pháp lý

- Nghị quyết 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo chỉ đạo: Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc, thực hiện từ năm học 2026 - 2027; đến năm 2030 hoàn thành việc cung cấp miễn phí SGK cho học sinh; ưu tiên khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nhà nước bảo đảm nguồn lực để miễn học phí và giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo lộ trình do Chính phủ quy định, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước, pháp luật có liên quan.

- Tại khoản 8 Điều 1 Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 ngày 10/12/2025 sửa đổi, bổ sung Điểm b khoản 1 Điều 32 Luật Giáo dục 2019 quy định: Chính phủ quy định việc miễn phí SGK cho học sinh; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc.

Ngoài ra, việc xây dựng Nghị định còn căn cứ các văn bản pháp luật liên quan như: Luật Giáo dục số 43/2019/QH14; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15; Luật Giáo dục Nghề nghiệp số 124/2025/QH15; Luật Giáo dục Đại học số 125/2025/QH15; Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15;...

c) Cơ sở thực tiễn

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng phát triển đất nước. Việc hỗ trợ chi phí học tập, miễn học phí và hỗ trợ SGK cho người học được xác định là một giải pháp quan trọng nhằm giảm gánh nặng chi phí học tập và thúc đẩy thực hiện công bằng trong giáo dục, là điều kiện quan trọng để thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng dạy và học. Một số địa phương đã chủ động triển khai chính sách hỗ trợ hoặc cấp phát SGK cho học sinh nhưng việc thực hiện còn phân tán, chưa thống nhất.

Đối với môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, người học hiện vẫn phải chi trả chi phí giáo trình và học phí theo quy định của từng cơ sở đào tạo và mức chi trả có sự chênh lệch lớn giữa các cơ sở đào tạo. Việc xây dựng một khung pháp lý thống nhất sẽ góp phần bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người học môn học quan trọng này.

Do đó, việc ban hành Nghị định là cần thiết nhằm: (i) Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Quốc hội; (ii) Giảm gánh nặng chi phí học tập cho người học; (iii) Bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục; (iv) Tạo cơ sở pháp lý thống nhất để tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

2.2. Mục đích ban hành

- Cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền học tập.

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai đồng bộ chính sách miễn phí SGK; miễn học phí, giáo trình môn GDQPAN.

- Góp phần thực hiện an sinh xã hội, giảm chi phí học tập, hạn chế bỏ học vì khó khăn kinh tế.

3. Nội dung chủ yếu

3.1. Bố cục của Nghị định

Dự thảo Nghị định gồm 7 Chương và 37 Điều, cụ thể:

- Chương I (từ Điều 1 đến Điều 4): Quy định chung, gồm quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích từ ngữ, nguồn kinh phí thực hiện chính sách.

- Chương II (từ Điều 5 đến Điều 14): Miễn phí sử dụng SGK giáo dục phổ thông. Quy định về cung cấp, quản lý SGK tại thư viện trường học; Lộ trình thực hiện; Tổ chức mua sắm SGK ban đầu, hằng năm và lập dự toán, phân bổ, quản lý và quyết toán kinh phí thực hiện.

- Chương III (từ Điều 15 đến Điều 20): Miễn phí giáo trình môn GDQPAN. Quy định về nguyên tắc thực hiện, hình thức và thời gian thực hiện miễn phí giáo trình GDQPAN; Tổ chức mua sắm ban đầu và hằng năm và lập dự toán, phân bổ, quản lý và quyết toán kinh phí thực hiện.

- Chương IV (từ Điều 21 đến Điều 26): Miễn học phí môn GDQPAN. Quy định về chính sách miễn học phí và thời gian thực hiện; lập dự toán, phân bổ, quản lý và quyết toán kinh phí thực hiện.

- Chương V (từ Điều 27 đến Điều 28): Quản lý tài sản và các hành vi bị nghiêm cấm.

- Chương VI (từ Điều 29 đến Điều 34): Tổ chức thực hiện.

- Chương VII (từ Điều 35 đến Điều 37): Điều khoản thi hành.

3.2. Nội dung chủ yếu

3.2.1. Việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước

Dự thảo Nghị định quy định một số nội dung cơ bản về miễn phí SGK giáo dục phổ thông, miễn học phí và miễn phí giáo trình môn học GDQPAN, hình thức thực hiện, nguồn kinh phí thực hiện nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết của Quốc hội số 248/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết của Chính phủ số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Bộ GDĐT.

Nội dung dự thảo Nghị định không có quy định ảnh hưởng trực tiếp đến bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh (Bộ GDĐT đã tổng hợp ý kiến của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và tại cuộc họp Hội đồng thẩm định của Bộ Tư pháp).

3.2.2. Vấn đề chưa được pháp luật quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp

Hiện nay chưa có quy định đầy đủ, thống nhất về miễn phí SGK giáo dục phổ thông và miễn học phí, giáo trình môn học GDQPAN trên phạm vi toàn quốc. Dự thảo Nghị định quy định cụ thể lộ trình thực hiện, cơ chế thư viện dùng chung; cơ chế mua sắm, quản lý, cấp phát và nguồn kinh phí thực hiện nhằm bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm và hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Cụ thể như sau:

* Về miễn phí SGK giáo dục phổ thông

a) Bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027.

Tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị1, Chính phủ2, Quốc hội3 đã giao Bộ trưởng Bộ GDĐT quyết định một bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc, thực hiện từ năm học 2026 - 2027. Theo đó, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành Quyết định số 3558/QĐ-BGDĐT ngày 26/12/2025 và Quyết định số 185/QĐ-BGDĐT ngày 29/01/2026 quyết định bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027.

b) Phân loại SGK được cấp miễn phí

Tại khoản 8 Điều 1 Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 ngày 10/12/2025 sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 32 Luật Giáo dục 2019 quy định: a) ...SGK thể hiện dưới dạng sách in, sách chữ nổi Braille, sách điện tử”.

Bộ GDĐT đề xuất thực hiện cấp miễn phí SGK đối với SGK dạng sách in, sách chữ nổi Braille. Đối với SGK điện tử chưa áp dụng cấp miễn phí do hiện nay Bộ GDĐT đang triển khai nghiên cứu, xây dựng nên chưa có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể cho sách giáo khoa điện tử.

c) Về hình thức thực hiện

Chính sách được triển khai theo mô hình thư viện cho mượn SGK dùng chung. Nhà nước đầu tư mua SGK để trang bị cho thư viện các cơ sở giáo dục; học sinh được mượn sử dụng theo học kỳ hoặc năm học và hoàn trả sau khi kết thúc sử dụng. Cơ chế mượn - trả giúp tiết kiệm ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, tăng cường chia sẻ tài nguyên giáo dục và bảo vệ môi trường thông qua tái sử dụng SGK nhiều lần. Đồng thời, dự thảo Nghị định quy định ưu tiên tận dụng SGK hiện có, chỉ mua sắm bổ sung đối với phần thiếu hụt sau rà soát, điều chuyển.

d) Thời điểm và đối tượng được cấp SGK miễn phí

(i) Thời điểm miễn phí SGK

- Tại Nghị quyết số 248/2025QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo chỉ đạo:...đến năm 2030 hoàn thành việc cung cấp miễn phí SGK cho học sinh; ưu tiên khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Theo đó, Bộ GDĐT đề xuất thời điểm miễn phí SGK như sau: Thực hiện miễn phí SGK đối với học sinh phổ thông được triển khai trên phạm vi toàn quốc kể từ năm học 2029 - 2030. Đối với các địa phương có khả năng cân đối ngân sách địa phương, khuyến khích Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thực hiện chính sách miễn phí SGK sớm hơn lộ trình quy định tại Nghị định; trong đó ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai trước đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng ngân sách của địa phương.

- Thời điểm cung cấp miễn phí sử dụng SGK tiếng dân tộc thiểu số thực hiện theo quy định tại Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên, Nghị định số 96/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 82/2010/NĐ-CP4, Bộ GDĐT báo cáo như sau:

+ Hiện nay Bộ GDĐT đã hoàn thành biên soạn, thẩm định và đang triển khai in, phát hành SGK tiếng M’nông, Bahnar, Chăm, Khmer, Ê đê, Jrai, Mông cấp tiểu học.

+ Giai đoạn 2026-2030: Bộ GDĐT tiếp tục biên soạn, thẩm định SGK tiếng Raglai, tiếng Mường, tiếng Cơ Tu (cấp Tiểu học); cấp THCS đối với tiếng Khmer, tiếng Chăm, tiếng Ê đê và thực hiện in ấn, phát hành để cấp phát về thư viện các cơ sở giáo dục.

Như vậy, dự thảo đặt mục tiêu hoàn thành miễn phí SGK vào năm học 2029

- 2030 để phù hợp với nguồn lực quốc gia, đồng thời khuyến khích các địa phương có đủ điều kiện ngân sách chủ động triển khai thực hiện trước lộ trình này. Cần khẳng định rằng, lộ trình miễn phí SGK vào năm học 2029 - 2030 không làm ảnh hưởng đến nhóm đối tượng ưu tiên (vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khó khăn) vì các nhóm này tiếp tục được bảo đảm bởi các chính sách hỗ trợ hiện hành. Do đó, Nghị định vừa mang tính kế thừa, vừa tạo cơ chế linh hoạt để các địa phương sớm hoàn thành mục tiêu an sinh giáo dục.

(ii) Đối tượng miễn phí SGK

Dự thảo Nghị định quy định đối tượng thụ hưởng là học sinh thông qua cơ chế mượn - trả sách giáo khoa.

đ) Cơ chế mua sắm ban đầu và hằng năm

Với tính chất đặc thù của SGK giáo dục phổ thông là thống nhất sử dụng chung một (01) bộ sách toàn quốc và Nhà nước định giá SGK theo quy định của Luật Giá 2023, Bộ GDĐT đề xuất như sau:

- Căn cứ số lượng học sinh, mức giá SGK tại thời điểm lập dự toán ngân sách hằng năm, các địa phương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch mua sắm ban đầu để bảo đảm đủ SGK phục vụ việc dạy và học trên địa bàn tỉnh.

- Việc mua sắm SGK:

+ Đối với cơ sở giáo dục phổ thông trực thuộc địa phương: UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện hoặc phân cấp cho sở giáo dục và đào tạo, UBND cấp xã, cơ sở giáo dục thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch.

+ Đối với cơ sở giáo dục trực thuộc các Bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học do cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch.

- Mua sắm bổ sung hằng năm: Ngân sách nhà nước cấp bù hằng năm cho các trường để mua sắm bổ sung trong các trường hợp sau: (i) Thay thế sách hư hỏng do sử dụng lâu ngày; (ii) Dự phòng đáp ứng sự gia tăng đột xuất về số lượng học sinh hoặc thay đổi danh mục sách theo lộ trình đổi mới chương trình; (iii) Đối với các năm thay đổi giáo trình theo chương trình mới, ngân sách nhà nước cấp 100% kinh phí mua sắm lần đầu; (iv) Mua sắm bổ sung 100% số lượng giáo trình trong các trường hợp thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật có liên quan; (v) Mua sắm bổ sung đối với SGK khi có cập nhật, chỉnh lý, tái bản do thay đổi yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật hoặc điều kiện sử dụng.

e) Đánh giá tác động ngân sách nhà nước và cơ chế cấp ngân sách nhà nước Căn cứ số liệu học sinh phổ thông năm học 2025-2026 và mức giá SGK năm học 2026 - 2027 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thông báo, dự kiến tổng nhu cầu kinh phí NSNN thực hiện miễn phí SGK cho toàn bộ học sinh phổ thông như sau:

- Miễn phí SGK cho toàn bộ học sinh từ năm học 2029-2030, tổng NSNN là 3.855.770 triệu đồng. (Chi tiết tại Phụ lục 01-03 đính kèm).

- Số liệu chi tiết theo từng tỉnh/thành phố theo Phụ lục 04 đính kèm Tờ trình.

- Mua sắm bổ sung hằng năm dự kiến tổng NSNN là 10% so với mua sắm ban đầu, với số tiền là 385.577 triệu đồng.

g) Nguồn kinh phí thực hiện

- Ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương chưa cân đối được ngân sách để thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa; miễn học phí, giáo trình môn Giáo dục quốc phòng và an ninh quy định tại Nghị định này từng thời kì theo quy định của pháp luật. Việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho các địa phương được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước trong quá trình lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách hằng năm, bảo đảm tính chủ động, ổn định và không làm gián đoạn việc thực hiện chính sách.

- Nhà nước khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ bổ sung SGK cho các cơ sở giáo dục, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và phù hợp quy định của pháp luật.

* Về miễn phí giáo trình môn GDQPAN

a) Lộ trình thực hiện

Từ năm học 2027 - 2028, thống nhất thực hiện miễn phí giáo trình môn học GDQPAN trên toàn quốc cho tất cả các đối tượng. Lý do:

+ Môn học GDQPAN là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, có quy mô người học tương đối ổn định, thời gian đào tạo ngắn và phạm vi tổ chức tập trung, thuận lợi cho việc xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, lập dự toán và triển khai thống nhất trên toàn quốc.

+ Hiện nay, hệ thống Trung tâm GDQPAN và các cơ sở đào tạo cơ bản đã đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, giáo trình và cơ chế tổ chức giảng dạy, nên việc triển khai chính sách chủ yếu là bổ sung nguồn kinh phí hỗ trợ người học, không phát sinh yêu cầu đầu tư lớn.

+ Việc thực hiện từ năm học 2027 - 2028 vừa bảo đảm kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng, Quốc hội về bảo đảm an sinh giáo dục, giảm chi phí học tập cho người học, vừa tạo khoảng thời gian phù hợp để các bộ, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo chuẩn bị điều kiện triển khai, bố trí ngân sách và hoàn thiện cơ chế thực hiện theo quy định.

b) Hình thức thực hiện

Nhà nước đầu tư mua sắm giáo trình môn học GDQPAN để trang bị cho thư viện các cơ sở đào tạo nhằm tổ chức cho người học mượn - trả sử dụng trong năm học theo quy định của cơ sở đào tạo.

c) Tổ chức mua sắm giáo trình ban đầu và hằng năm

- Việc mua sắm giáo trình được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, tiết kiệm và hiệu quả. Giá giáo trình làm căn cứ lập dự toán và tổ chức mua sắm là giá bìa do đơn vị xuất bản kê khai, niêm yết hoặc giá do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về giá tại thời điểm lập kế hoạch mua sắm.

- Mua sắm bổ sung hằng năm: Mua sắm bổ sung tương tự như các trường hợp mua sắm SGK báo cáo ở trên.

d) Nguồn kinh phí thực hiện

- Kinh phí thực hiện chính sách miễn phí giáo trình GDQPAN được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành và được bố trí trong dự toán chi ngân sách hằng năm của các cơ quan, đơn vị.

- Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.

- Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ, tài trợ nguồn lực để thực hiện chính sách cung cấp miễn phí giáo trình môn học GDQPAN theo quy định của pháp luật.

đ) Đánh giá tác động ngân sách nhà nước

Số lượng sinh viên, người học tham gia học tập môn GDQPAN dự kiến khoảng 750.000 người/năm, tuy nhiên, tất cả không học cùng 1 đợt mà chia ra thành các đợt học khác nhau. Vì vậy:

- Dự kiến số lượng Giáo trình cấp lần đầu: (50% số lượng sinh viên, người học) khoảng 375.000 cuốn/tập. Tổng 2 tập khoảng 750.000 cuốn.

- Dự kiến giá 01 cuốn Giáo trình từ 150.000đ.

- Dự kiến số tiền cần để cấp đủ giáo trình lần đầu tương ứng là 56.250 triệu đồng.

- Dự kiến số tiền cần để cấp bổ sung hằng năm là 10% so với mua sắm ban đầu, với số tiền là 5.625 triệu đồng.

* Về miễn học phí môn GDQPAN

a) Đối tượng áp dụng: Người học tại các cơ sở đào tạo được miễn học phí đối với lần học thứ nhất môn học GDQPAN theo chương trình đào tạo bắt buộc do cơ quan có thẩm quyền quy định.

b) Nguyên tắc thực hiện

- Hằng năm, căn cứ vào quy mô người học thực tế và định mức kinh tế - kỹ thuật, cơ sở đào tạo lập dự toán kinh phí cấp bù học phí môn học GDQPAN gửi cơ quan quản lý cấp trên để tổng hợp.

- Cấp phát kinh phí: Ngân sách nhà nước thực hiện cấp dự toán hoặc hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho cơ sở đào đào tạo theo phân cấp quản lý ngân sách.

- Đối với cơ sở giáo dục ngoài công lập: Nhà nước hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho cơ sở theo số lượng người học thực tế và định mức quy định để cơ sở thực hiện miễn học phí cho người học.

c) Lộ trình thực hiện

Năm học 2026 - 2027 ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật đào tạo môn học GDQPAN làm cơ sở xác định kinh phí thực hiện chính sách miễn học phí để thống nhất thực hiện trên toàn quốc cho tất cả các đối tượng từ năm học 2027-2028.

d) Đánh giá tác động ngân sách nhà nước

Dự kiến kinh phí miễn học phí môn GDQPAN hằng năm từ năm học 2027-2028: định mức x số sinh viên, người học = 2.589.500 triệu đồng.

Mức kinh phí này được lấy thực tế từ các cơ sở đào tạo, trung tâm giáo dục quốc phòng, sau khi ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật đào tạo môn học GDQPAN thì mức kinh phí này sẽ thay đổi dự kiến ± 20% (từ 2.071.600 triệu đồng đến 3.107.400 triệu đồng).

3.2.3. Vướng mắc, bất cập từ thực tiễn

Thực tiễn cho thấy chi phí SGK, giáo trình và học phí môn học GDQPAN còn tạo áp lực đối với nhiều gia đình, đặc biệt tại vùng khó khăn; trong khi cơ chế hỗ trợ hiện hành còn phân tán, chưa đồng bộ. Vì vậy, dự thảo Nghị định xây dựng cơ chế thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc, đồng thời áp dụng mô hình thư viện dùng chung để giảm chi phí xã hội, tiết kiệm ngân sách và nâng cao hiệu quả sử dụng SGK, giáo trình.

3.2.4. Nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính

Dự thảo Nghị định không phát sinh thủ tục hành chính đối với học sinh, sinh viên và người học. Việc xác định đối tượng thụ hưởng được thực hiện thông qua dữ liệu quản lý của cơ sở giáo dục; người học không phải nộp hồ sơ hoặc thực hiện thủ tục đề nghị hưởng chính sách, góp phần giảm thủ tục hành chính trung gian và tạo thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

3.2.5. Nội dung phân quyền, phân cấp

Dự thảo Nghị định được xây dựng theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương và cơ sở giáo dục trong tổ chức thực hiện; bảo đảm phân định rõ trách nhiệm, nâng cao tính chủ động, giảm thủ tục trung gian và phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục; phù hợp với Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

II. Nghị định số 279/2026/NĐ-CP ngày 12/7/2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Có hiệu lực từ 12/7/2026)

1. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 12 tháng 7 năm 2026.

2. Sự cần thiết, mục đích ban hành

2.1. Sự cần thiết ban hành

a) Cơ sở chính trị, pháp lý

Ngày 26/02/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời trong năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành một số Luật về giáo dục (Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15; Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15; Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15). Quan điểm chỉ đạo của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật mới đã định hướng rõ ràng về các chính sách phát triển giáo dục, đào tạo với nhiều nội dung đột phá.

Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo các Bộ, ngành rà soát, sắp xếp, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và xây dựng dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ (tại Công văn số 412/TTg-TCCV ngày 16/4/2026 đã có chỉ đạo về triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm về tổ chức bộ máy, công vụ, công chức, thi đua, khen thưởng).

Do vậy, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo (thay thế Nghị định số 37/2025/NĐ-CP) là phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng, quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

b) Cơ sở thực tiễn

* Về kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao tại Nghị định số 37/2025/NĐ-CP, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kịp thời tham mưu, đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội ban hành chủ trương chỉ đạo hoàn thiện thể chế, chính sách theo ngành, lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý. Đặc biệt, trong đó có Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các quan điểm, định hướng của Đảng về đổi mới, phát triển đột phá giáo dục và đào tạo là phù hợp với xu thế phát triển giáo dục của thế giới và thực tiễn phát triển của nước ta. Trên cơ sở đó, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất và thực hiện phân cấp 07/27 nhiệm vụ từ Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng thêm 23 nhiệm vụ từ phân cấp, phân quyền của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Giáo dục được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15. Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao 447 nhiệm vụ mới tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ và các văn bản khác.

* Về việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Bộ Giáo dục và Đào tạo là đơn vị thực hiện quản lý hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục; đã triển khai xây dựng các hạng mục phần cứng, phần mềm phục vụ tạo lập, quản lý và khai thác dữ liệu học bạ số và văn bằng số; bổ sung các hạng mục bảo đảm an toàn thông tin, đáp ứng yêu cầu kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; triển khai hiệu quả dịch vụ công trực tuyến đăng kí dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông; thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp với cơ sở giáo dục và đào tạo khác; các kết quả đạt được trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đã chuyển giao và ứng dụng tại các địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân trong tất cả các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

* Về cơ cấu tổ chức

Trong bối cảnh sắp xếp tổ chức lại từ năm 2025, khối lượng công việc lớn, tiến độ gấp và yêu cầu chuyên môn cao, thay đổi nhân sự nhiều nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng ủy, lãnh đạo Bộ và tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của đội ngũ đảng viên, công chức, về cơ bản các nhiệm vụ được triển khai thông suốt, không gián đoạn với phương châm hành động “Đoàn kết, kỷ cương, bản lĩnh, trách nhiệm, hiệu quả”; tổ chức bộ máy nhanh chóng ổn định, bảo đảm thực hiện hiệu quả chức năng quản lý nhà nước.

Cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trải qua quá trình tinh gọn trong năm 2025 nên đã đảm bảo hợp lý để bao quát toàn bộ các nhiệm vụ quản lý nhà nước, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh, bảo đảm nguyên tắc một tổ chức thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một tổ chức chủ trì, chịu trách nhiệm chính. Các đơn vị hiện đang đảm bảo các tiêu chí thành lập đơn vị theo quy định.

2.2. Mục đích ban hành

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo (thay thế Nghị định số 37/2025/NĐ-CP) nhằm đảm bảo thống nhất quy định của pháp luật về cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

3. Nội dung chủ yếu

3.1. Bố cục của Nghị định

Dự thảo Nghị định gồm có 6 Điều, cụ thể như sau:

- Điều 1. Vị trí và chức năng.

- Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn.

- Điều 3. Cơ cấu tổ chức.

- Điều 4. Điều khoản chuyển tiếp.

- Điều 5. Hiệu lực thi hành.

- Điều 6. Trách nhiệm thi hành.

3.2. Nội dung chủ yếu

3.2.1. Về vị trí chức năng

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên; quản lý nhà nước về tiếng Việt và tiếng các dân tộc; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Trong đó: Bỏ chức năng về “phát triển kỹ năng nghề” vì Nghị định số 138/2026/NĐ-CP ngày 07/4/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về phát triển kỹ năng nghề đã chuyển chức năng này về Bộ Nội vụ đầu mối thực hiện.

3.2.2. Về nhiệm vụ và quyền hạn

Các nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo cơ bản giữ nguyên như Nghị định số 37/2025/NĐ-CP và có sự khái quát hóa theo các nhóm nhiệm vụ lớn, đảm bảo nguyên tắc không quy định lại các quy định đã có trong Luật, Nghị quyết và các văn bản khác. Cụ thể gồm các nhóm nội dung như sau: (1) Về xây dựng pháp luật; (2) Về chiến lược, quy hoạch, đề án, kế hoạch phát triển, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình quốc gia, chương trình hành động quốc gia, các công trình quan trọng quốc gia; (3) Về mục tiêu, chương trình và nội dung giáo dục; (4) Về quản lý nhà nước về tiếng Việt và tiếng các dân tộc; (5) Về sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu giáo dục; (6) Về thi, kiểm tra, đánh giá, tuyển sinh, đào tạo, công nhận kết quả học tập và văn bằng, chứng chỉ; (7) Về nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhân sự hỗ trợ giáo dục và nhân sự khác trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; (8) Về quản lý và hỗ trợ người học; (9) Về quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trường học; (10) Về quản lý tài chính, tài sản và đầu tư công; (11) Về bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục; (12) Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giáo dục; (13) Về quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo; (14) Về hợp tác quốc tế; (15) Về hội thi, hội giảng; (16) Về thi đua, khen thưởng ngành giáo dục; (17) Các nhiệm vụ về cải cách hành chính, quản lý hội, tổ chức phi chính phủ, dịch vụ công, quản lý tổ chức bộ máy, nhân sự, kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Dự thảo Nghị định không quy định các nội dung về phân cấp và các nội dung quy định tại dự thảo đã đảm bảo phù hợp với Nghị quyết số 23/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các văn bản về phân cấp khác có liên quan.

3.2.3. Về cơ cấu tổ chức

a) Đối với các đơn vị thuộc Bộ

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất giữ nguyên cơ cấu tổ chức gồm 8 Vụ, 05 Cục và Văn phòng như sau: Vụ Giáo dục Mầm non; Vụ Giáo dục Phổ thông; Vụ Giáo dục Đại học; Vụ Giáo dục Quốc phòng và An ninh; Vụ Học sinh, sinh viên; Vụ Pháp chế; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục; Cục Quản lý chất lượng; Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin; Cục Hợp tác quốc tế; Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên; Văn phòng. Ngoài ra, Các Cục của Bộ Giáo dục và Đào tạo không đảm bảo các tiêu chí xác định Cục loại 1 và đảm bảo tiêu chí phân loại là Cục loại 2 theo quy định tại Nghị định số 303/2025/NĐ-CP ngày 19/11/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ.

b) Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, phục vụ chức năng quản lý nhà nước của bộ

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất giữ nguyên Báo Giáo dục và Thời đại; sắp xếp, tổ chức lại Tạp chí Giáo dục về Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam để tiến hành sáp nhập với Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam; đổi tên Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thành Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục (Chi tiết về việc rà soát cơ cấu tổ chức, đảm bảo tiêu chí thành lập đơn vị tại phụ lục kèm theo).

Như vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo giảm 01 đơn vị sự nghiệp công lập, phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ.

III. Quyết định số 36/2026/QĐ-TTg ngày 14 tháng 7 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương, các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030 (Có hiệu lực từ 14/7/2026)

1. Sự cần thiết, mục đích ban hành

1.1. Sự cần thiết ban hành

a) Cơ sở chính trị

- Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GDĐT đã xác định rõ: Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia mới; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học.

- Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Bộ GDĐT: Khẩn trương xây dựng Nghị quyết của Quốc hội ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng GDĐT giai đoạn 2026 - 2035.

b) Cơ sở pháp lý

- Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Hải quan, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 90/2025/QH15.

- Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15.

- Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình, trong đó Quốc hội đã giao cho Thủ tướng Chính phủ: “Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình”.

- Nghị quyết số 70/2025/UBTVQH15 ngày 07/02/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 quy định: Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030: (1) Bảo đảm đúng quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan; (2) Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương cho các chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện theo chủ trương đầu tư của từng chương trình do Quốc hội quyết định.

- Nghị định số 358/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, quy định:

+ Khoản 1 Điều 5: “Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, chủ chương trình chủ trì, phối hợp với chủ dự án thành phần và các cơ quan có liên quan”.

+ Điểm a khoản 1 Điều 52: “Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách địa phương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia”.

- Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 07/4/2026 của Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình, trong đó Chính phủ đã giao Bộ GDĐT: "Xây dựng quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”.

c) Cơ sở thực tiễn

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định GDĐT là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng phát triển đất nước và nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo ngày càng được ưu tiên. Lần đầu tiên ngành giáo dục được thụ hưởng 01 Chương trình mục tiêu quốc gia riêng, mang tính đột phá để tạo tiền đề nâng tầm chất lượng giáo dục của Việt Nam trong khu vực và thế giới.

Do phạm vi, đối tượng thụ hưởng của Chương trình rộng, có sự tham gia của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và một số cơ sở giáo dục; đồng thời kế thừa kinh nghiệm của các Chương trình mục tiêu quốc gia đã triển khai thời gian vừa qua cho thấy việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương, cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 là cần thiết nhằm bảo đảm phân bổ ngân sách trung ương có trọng tâm, trọng điểm để Chương trình đạt hiệu quả và kết quả theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền, đồng thời tăng cường trách nhiệm của ngân sách địa phương, các đơn vị thụ hưởng trong tổ chức thực hiện Chương trình.

1.2. Mục đích ban hành

Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa quy định của Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình và Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 07/4/2026 của Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 249/2025/QH15 ; làm căn cứ để Thủ tướng Chính phủ quyết định phân bổ, giao dự toán và kế hoạch ngân sách trung ương thực hiện Chương trình; nâng cao trách nhiệm của địa phương, các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng trong bố trí vốn đối ứng; bảo đảm Chương trình được triển khai thống nhất, công khai, minh bạch.

2. Nội dung chủ yếu

2.1. Bố cục của Quyết định

Dự thảo Quyết định gồm 04 Chương và 15 Điều, cụ thể:

- Chương I (từ Điều 1 đến Điều 3): Quy định chung, gồm quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và nguyên tắc phân bổ ngân sách trung ương;

- Chương II (từ Điều 4 đến Điều 9): Quy định về tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương;

- Chương III (từ Điều 10 đến Điều 12): Quy định về tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương và đối ứng của cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng;

- Chương IV (từ Điều 13 đến Điều 15): Điều khoản thi hành.

2.2. Nội dung chủ yếu

2.2.1. Việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước

Dự thảo Quyết định quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương, cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng thực hiện Chương trình trong giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030. Nội dung này nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 và Chính phủ giao tại Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 07/4/2026; đồng thời bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng về đột phá phát triển GDĐT, ưu tiên đầu tư hiện đại hóa hệ thống giáo dục quốc dân.

Dự thảo Quyết định được xây dựng trên cơ sở tuân thủ quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Nghị quyết số 70/2025/UBTVQH15, Nghị định số 358/2025/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan; bảo đảm quản lý thống nhất về mục tiêu, cơ chế, chính sách, tiêu chí và định mức phân bổ của Chương trình; không vượt quá tổng mức vốn đầu tư phát triển, vốn sự nghiệp đã được cấp có thẩm quyền quyết định; không trùng lặp với các chương trình, đề án, nhiệm vụ khác đã được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí.

Nội dung dự thảo Quyết định không quy định nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh; không làm phát sinh chính sách mới ngoài phạm vi chủ trương đầu tư Chương trình đã được Quốc hội phê duyệt.

2.2.2. Vấn đề chưa được pháp luật quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp

Hiện nay, pháp luật đã có quy định chung về quản lý, phân bổ vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư công và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng áp dụng riêng cho Chương trình.

Do đó, dự thảo Quyết định quy định cụ thể nguyên tắc phân bổ, tiêu chí, hệ số, phương pháp xác định mức vốn phân bổ cho từng nhóm đối tượng thụ hưởng; tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương, cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng; trách nhiệm tổ chức thực hiện của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và đơn vị thụ hưởng, bảo đảm có căn cứ pháp lý thống nhất để triển khai Chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030. Cụ thể như sau:

2.2.3 Về phân bổ vốn đầu tư công

a) Đối với giáo dục mầm non, phổ thông (Điều 4): Tiêu chí, hệ số phân bổ dựa trên thực trạng cơ sở vật chất (phòng học tạm, mượn, xuống cấp), mức độ ưu tiên về kiên cố hóa, phổ cập giáo dục, kết hợp với hệ số vùng miền và khả năng tự cân đối ngân sách của từng địa phương.

b) Đối với giáo dục nghề nghiệp (Điều 5): Tiêu chí, hệ số phân bổ theo phương pháp tính điểm lũy tích dựa trên định hướng phát triển (trung tâm quốc gia, trung tâm vùng, ngành nghề mũi nhọn), quy mô đào tạo trình độ cao đẳng, mức độ đạt chuẩn, số lượng ngành nghề trọng điểm.

c) Đối với giáo dục đại học (Điều 6): Chia thành 2 nhóm độc lập để tính điểm quy đổi: Nhóm A (Đầu tư chiều sâu) dựa trên các tiêu chí, hệ số về năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế, sáng chế và đội ngũ trình độ cao; Nhóm B (Đầu tư nâng chuẩn) dựa trên các tiêu chí, hệ số về mức độ thiếu hụt diện tích đất, sàn xây dựng, quy mô người học và vị trí địa lý.

d) Đối với các bộ, cơ quan trung ương (Điều 8): Phân bổ căn cứ theo danh mục dự án, quy mô đầu tư, tiến độ thực hiện và khả năng giải ngân thực tế.

2.2.4. Về phân bổ kinh phí thường xuyên cho địa phương (Điều 7)

Các tiêu chí, hệ số phân bổ được tính toán theo tổng điểm quy đổi từ quy mô đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học, năng lực bồi dưỡng, tập huấn, thí điểm các mô hình về chuyển đổi số, ứng dụng AI có kiểm soát, dạy và học bằng tiếng Anh, giáo dục STEM/STEAM, phát triển tài năng, khởi nghiệp sáng tạo, mức độ khó khăn của địa bàn và khả năng cân đối ngân sách.

Việc quy định tiêu chí, hệ số nêu trên nhằm bảo đảm kinh phí thường xuyên được phân bổ phù hợp với quy mô đối tượng thụ hưởng, nhiệm vụ triển khai thực tế và điều kiện của từng địa phương; đồng thời tăng cường trách nhiệm của địa phương trong tổ chức thực hiện các hoạt động chuyên môn của Chương trình.

2.2.5. Về nguyên tắc chung và định mức phân bổ (Điều 3, Điều 9)

Dự thảo Quyết định quy định nguyên tắc phân bổ ngân sách trung ương theo hướng đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, bền vững; ưu tiên địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo; tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, tránh dàn trải, không trùng lặp nội dung chi và đối tượng thụ hưởng.

Dự thảo Quyết định cũng quy định trường hợp nhu cầu vốn thực tế thấp hơn mức vốn ngân sách trung ương dự kiến hỗ trợ tối đa thì thực hiện phân bổ theo nhu cầu vốn thực tế; phần vốn chênh lệch còn dư được tổng hợp để điều phối, bổ sung cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị thụ hưởng có khả năng triển khai, sử dụng vốn hiệu quả hoặc địa bàn có nhu cầu đầu tư cấp bách, phát sinh đột xuất, ưu tiên giải quyết dứt điểm tình trạng phòng học tạm, phòng học nhờ, mượn trong phạm vi Chương trình.

Định mức phân bổ ngân sách trung ương được xác định căn cứ tổng mức vốn được cấp có thẩm quyền giao và các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ tại Quyết định; bảo đảm tập trung, tiết kiệm, hiệu quả, không dàn trải và phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước. Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện phân bổ chi tiết theo thẩm quyền, bảo đảm đúng mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình và quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công.

2.2.6. Về cơ chế vốn đối ứng (Điều 10, Điều 11, Điều 12)

Dự thảo Quyết định quy định nguyên tắc bố trí vốn đối ứng của ngân sách địa phương, bảo đảm tổng vốn đối ứng của ngân sách địa phương và nguồn huy động khác thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp với cơ cấu nguồn vốn đã được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 249/2025/QH15.

Đối với các địa phương tự cân đối ngân sách, dự thảo Quyết định quy định trách nhiệm chủ động bố trí 100% nguồn vốn thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình trên địa bàn từ ngân sách địa phương và các nguồn huy động hợp pháp khác. Đối với địa phương nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương, dự thảo Quyết định quy định trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương và các nguồn huy động khác trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm, bảo đảm không thấp hơn tỷ lệ vốn đối ứng theo quy định tại dự thảo Quyết định.

Đối với các trường cao đẳng, dự thảo Quyết định quy định trách nhiệm bố trí vốn đối ứng theo nhóm điểm năng lực của từng trường. Đối với cơ sở giáo dục đại học, tỷ lệ vốn đối ứng được xác định theo nhóm đầu tư, điểm thực trạng, mức độ thiếu hụt cơ sở vật chất và tổng mức đầu tư dự án. Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị thụ hưởng, tăng cường huy động nguồn lực hợp pháp ngoài ngân sách trung ương, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả đầu tư của Chương trình.

2.2.7. Về tổ chức thực hiện (Điều 13)

Phân định rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước: Bộ GDĐT giữ vai trò chủ trì, điều phối tổng thể; Bộ Tài chính chủ trì tổng hợp, bố trí ngân sách; các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm lập phương án phân bổ, quản lý, kiểm tra, thanh tra.

IV. Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (Có hiệu lực từ 07/9/2026)

1. Sự cần thiết, mục đích ban hành:

1.1. Sự cần thiết ban hành

a) Cơ sở chính trị

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045 “Xây dựng hệ thống giáo dục mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập”; “Tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam”.

Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW xác định: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, thúc đẩy xã hội học tập và học tập suốt đời; đẩy mạnh chuyển đổi trong giáo dục và đào tạo…”.

Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 quy định “Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam; quy định về thời gian, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu các cấp học, trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; quy định về thời gian, tiêu chuẩn, đối tượng, khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình giáo dục, đào tạo các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác” (điểm b khoản 1 Điều 1).

Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 nêu rõ nguyên tắc hoạt động giáo dục đại học “Bảo đảm chất lượng, hiệu quả, công bằng, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đại học, thúc đẩy học tập suốt đời” (khoản 3 Điều 4).

Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 nêu rõ nguyên tắc hoạt động giáo dục nghề nghiệp “Bảo đảm chất lượng, hiệu quả, công bằng, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục nghề nghiệp, hợp tác quốc tế; thúc đẩy học tập suốt đời”.

Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15 ngày 18/9/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát chuyên đề về việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông trong đó yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát trình Thủ tướng Chính phủ “Ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong Luật Giáo dục 2019…Phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam”.

Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW chỉ rõ “Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương…Hoàn thiện quy định về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, bảo đảm liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập.” (điểm b khoản 2 Mục II).

Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định nhiệm vụ “Tiếp tục hoàn thiện các quy định về liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo, tạo thuận lợi cho người học nâng cao trình độ và chuyển đổi ngành nghề; hoàn thiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam và Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, tăng tính liên thông và tương thích quốc tế” (mục III.1).

Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 16/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình công tác năm 2025 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao nhiệm vụ xây dựng dự thảo Quyết định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (thay thế Quyết định số 1981/QĐ-TTg) và Khung trình độ quốc gia Việt Nam (thay thế Quyết định 1982/QĐ-TTg).

b) Cơ sở thực tiễn

Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hoàn thiện Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm khả năng đối sánh với các hệ thống phân loại giáo dục quốc tế (ISCED) và tạo điều kiện thuận lợi cho công nhận văn bằng, chứng chỉ và dịch chuyển học tập, lao động trong khu vực và quốc tế.

Thực tiễn triển khai Quyết định số 1981/QĐ-TTg năm 2016 cho thấy Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đã góp phần xác lập cấu trúc tổng thể của hệ thống giáo dục Việt Nam. Trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống giáo dục cần tiếp tục được điều chỉnh theo hướng mở, linh hoạt và hiện đại hơn. Việc sửa đổi Khung cơ cấu là cơ sở để minh định hệ thống giáo dục quốc dân, tổ chức lại các luồng giáo dục, tăng cường phân luồng, liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng trong giai đoạn mới.

Bên cạnh đó, yêu cầu bảo đảm công bằng và bao trùm trong giáo dục ngày càng trở nên cấp thiết. Việc hoàn thiện Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân sẽ góp phần tạo điều kiện cho mọi công dân được tiếp cận cơ hội học tập phù hợp, thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền.

Trong điều kiện thị trường lao động biến động nhanh, học tập suốt đời đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với phát triển cá nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc sửa đổi Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân sẽ tạo cơ sở hình thành các lộ trình học tập linh hoạt, thúc đẩy giáo dục thường xuyên, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng và công nhận kết quả học tập tích lũy.

Thực tiễn triển khai Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo Quyết định số 1981/QĐ-TTg cho thấy còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như: chưa phản ánh đầy đủ các trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật hiện hành; cấu trúc hệ thống còn mang tính tuyến tính, chưa thể hiện rõ các lộ trình học tập linh hoạt; cơ chế liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo chưa được làm rõ; việc phân loại chương trình giáo dục chưa thống nhất, gây khó khăn trong công tác thống kê, đối sánh quốc tế và công nhận kết quả học tập.

Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục hiện hành đang chịu tác động mạnh của chuyển đổi số, thay đổi nhanh của thị trường lao động và yêu cầu học tập suốt đời, đòi hỏi Khung cơ cấu phải được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm khả năng tích lũy, chuyển đổi và liên thông giữa các chương trình giáo dục.

Nhìn chung, việc sửa đổi, hoàn thiện Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân là cần thiết nhằm xây dựng hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế.

2.2. Mục đích ban hành

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước bảo đảm hệ thống giáo dục được thiết kế thống nhất, linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho phân luồng, liên thông.

Tạo nền tảng pháp lý thống nhất giữa cấu trúc cấp học – trình độ đào tạo với các bậc trình độ quốc gia; tạo cơ sở định hướng cho việc công nhận, chuyển tiếp kết quả học tập theo quy định của pháp luật có liên quan; phục vụ thống kê, báo cáo và đối sánh theo các chuẩn mực quốc tế như ISCED và Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF).

Tổ chức hệ thống giáo dục, cơ cấu trình độ đào tạo, văn bằng, chứng chỉ và cơ chế liên thông, chương trình tích hợp, chuyển đổi số, học tập suốt đời, tích lũy tín chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Xác lập mối quan hệ rõ ràng giữa các cấp học, trình độ đào tạo và các cấp độ chương trình giáo dục, bảo đảm thống nhất với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các quy định pháp luật chuyên ngành.

Minh bạch về lộ trình học tập, giúp người học định hướng nghề nghiệp và lựa chọn con đường học tập phù hợp; phục vụ công tác quản lý nhà nước, thống kê, báo cáo và so sánh quốc tế về giáo dục.

2. Nội dung chủ yếu

2.1. Bố cục của Quyết định

Dự thảo Quyết định quy định về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng theo hướng khái quát, minh bạch, bảo đảm vai trò pháp lý của hệ thống giáo dục quốc dân, làm cơ sở cho phân luồng, liên thông và tổ chức lộ trình học tập trong toàn hệ thống.

Dự thảo gồm 09 điều và 03 Phụ lục kèm theo, với các nội dung cơ bản như sau:

a) Quy định chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích từ ngữ, mục đích của Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 1).

Dự thảo xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Quyết định là quy định về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các cấp học và trình độ đào tạo thuộc giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; được tổ chức theo các phương thức giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.

Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục; các cơ sở giáo dục và đào tạo; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức, quản lý, thống kê, phân luồng, liên thông và công nhận kết quả học tập trong hệ thống giáo dục quốc dân.

b) Giải thích từ ngữ, mục đích xây dựng và vai trò của Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 2, Điều 3)

Dự thảo bổ sung hệ thống khái niệm cơ bản như: Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, cấp độ trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, liên thông giáo dục và luồng giáo dục nhằm thống nhất nhận thức và cách áp dụng trong thực tiễn.

Dự thảo xác định mục đích của Khung cơ cấu nhằm thiết lập cấu trúc tổng thể của hệ thống giáo dục quốc dân; phân biệt, phân loại, sắp xếp các loại chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; cung cấp thông tin minh bạch về lộ trình học tập, hỗ trợ người học định hướng nghề nghiệp; bảo đảm sự liên thông trong hệ thống giáo dục, tạo cơ sở cho việc công nhận và chuyển tiếp kết quả học tập giữa các cấp học và trình độ đào tạo; làm cơ sở tham chiếu cho việc công nhận, đối sánh và chuyển đổi văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập giữa các cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế; phục vụ công tác quản lý nhà nước, thống kê và so sánh quốc tế về giáo dục.

Nguyên tắc thực hiện Khung cơ cấu được quy định theo hướng bảo đảm quyền học tập, học tập suốt đời; tính mở, liên thông, linh hoạt; tương thích với Khung trình độ quốc gia; phân định rõ phạm vi điều chỉnh; bảo đảm minh bạch và khả năng hội nhập quốc tế.

c) Quy định về cấu trúc, cấp độ chương trình, thời gian học tập tiêu chuẩn (Điều 4, Điều 5 và Điều 6).

Dự thảo quy định Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, được tổ chức theo các cấp độ từ cấp độ 0 đến cấp độ 8. Các cấp độ được xác định tương ứng với các cấp học và trình độ đào tạo từ giáo dục mầm non đến tiến sĩ, bảo đảm thống nhất, rõ ràng và tiệm cận thông lệ quốc tế.

Việc xác định các cấp độ chương trình giáo dục được thực hiện theo nguyên tắc phản ánh vị trí của chương trình trong lộ trình học tập và mức độ phức tạp của nội dung đào tạo. Theo đó, các chương trình giáo dục trung học phổ thông và trung học nghề cùng được xếp tại cấp độ 3 nhằm phản ánh vai trò là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp sau trung học cơ sở, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt trong lựa chọn lộ trình học tập của người học.

Điều 5 quy định cấp độ của các chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, quy định chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định.

Điều 6 quy định về thời gian đào tạo tiêu chuẩn của các cấp học và trình độ đào tạo, quy định chi tiết tại Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định.

d) Tổ chức thực hiện, hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp (Điều 7, Điều 8 và Điều 9).

Dự thảo giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức hướng dẫn và triển khai thực hiện Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trong toàn hệ thống.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ năm 2026 và thay thế Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Đồng thời, dự thảo quy định các chương trình, chuẩn chương trình đào tạo và văn bản liên quan tiếp tục được áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp đến hết năm 2026 để bảo đảm tính ổn định và đồng bộ khi triển khai Khung mới.

2.2. Nội dung chủ yếu

a) Nội dung sửa đổi, hoàn thiện:

Dự thảo Quyết định cập nhật và hoàn thiện Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật Giáo dục số 123/2025/QH15; Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15; Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 và các văn bản liên quan.

So với Quyết định số 1981/QĐ-TTg, dự thảo chuyển từ hình thức phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân sang hình thức quy định về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, qua đó làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mục đích, vai trò, cấu trúc, các cấp độ của chương trình giáo dục và mối quan hệ giữa các cấp học, trình độ đào tạo; nguyên tắc phân loại chương trình giáo dục, tổ chức các luồng giáo dục và bảo đảm sự liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân; thời gian đào tạo của các cấp học và trình độ đào tạo.

- Dự thảo đã làm rõ về phạm vi điều chỉnh của Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời không tiếp tục quy định những nội dung không thuộc phạm vi điều chỉnh của Khung cơ cấu như chuẩn năng lực, kết quả học tập, nội dung chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, điều kiện tuyển sinh và điều kiện cấp văn bằng, chứng chỉ; phân định rõ giữa Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.

- Dự thảo đã bổ sung quy định về đối tượng áp dụng, xác định rõ các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục và đào tạo và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan là đối tượng áp dụng của Khung cơ cấu, qua đó bảo đảm thống nhất trong tổ chức triển khai và thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

- Dự thảo đã hoàn thiện hệ thống giải thích từ ngữ, làm rõ các khái niệm nền tảng như Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, cấp độ và luồng giáo dục. Việc bổ sung này góp phần thống nhất nhận thức, tăng tính minh bạch và thuận lợi trong áp dụng Khung cơ cấu trong thực tiễn.

- Dự thảo đã bổ sung điều khoản chuyển tiếp, theo đó các chương trình giáo dục, chương trình đào tạo, chuẩn chương trình đào tạo, quy định về kiểm định chất lượng, thống kê giáo dục, văn bằng, chứng chỉ được ban hành trên cơ sở Quyết định số 1981/QĐ-TTg tiếp tục được áp dụng đối với các khóa nhập học trước ngày 01/01/2027. Quy định này bảo đảm tính ổn định của hệ thống và tránh xáo trộn trong quá trình chuyển đổi chính sách.

- Dự thảo đã hoàn thiện quy định về tổ chức thực hiện theo hướng thống nhất đầu mối, giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai Khung cơ cấu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Nội dung này góp phần khắc phục sự phân tán trong quản lý trước đây, bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

b) Nội dung bổ sung mới:

- Bổ sung quy định về cấu trúc hệ thống theo cấp độ từ cấp 0 đến cấp 8, qua đó chuẩn hóa thứ bậc các cấp học và trình độ đào tạo trong toàn hệ thống. Lí do: Tạo hành lang pháp lý đồng bộ với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và tiệm cận phân loại giáo dục quốc tế, phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2925/QH15 và Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.

- Bổ sung và làm rõ cấu trúc cấp 3, bao gồm: giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông, giáo dục trung học nghề, chương trình giáo dục đặc thù thuộc lĩnh vực năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao tương đương cấp trung học phổ thông và các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp. Lí do: Cụ thể hóa định hướng phân luồng sau giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo nhiều lộ trình học tập đa dạng cho người học; giáo dục lĩnh vực đặc thù.

- Bổ sung quy định về phân loại và mã hóa chương trình giáo dục theo các cấp độ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Lí do: Việc phân loại và mã hóa chương trình giáo dục nhằm thống nhất quản lý, tăng khả năng nhận diện, tạo thuận lợi cho việc theo dõi, thống kê, đối sánh, công nhận kết quả học tập và thúc đẩy tính liên thông giữa các chương trình giáo dục.

c) Nội dung lược bỏ:

- Dự thảo lược bỏ các quy định mang tính chi tiết về tiêu chuẩn đầu vào, điều kiện học tập tiếp và cơ hội học tập tiếp theo của từng cấp học, trình độ đào tạo. Các nội dung này hiện đã được điều chỉnh đầy đủ trong Luật Giáo dục số 123/2025/QH15, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn, do đó không cần thiết quy định lại trong Khung cơ cấu.

- Dự thảo không trực tiếp quy định chi tiết về thời lượng đào tạo theo năm học đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cũng như các quy định chi tiết về thời gian đào tạo tối thiểu đối với các trình độ trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Việc tinh giản này nhằm tránh chồng lấn với các quy định chuyên ngành và bảo đảm tính linh hoạt khi hệ thống pháp luật tiếp tục được cập nhật.

- Dự thảo không quy định chi tiết điều kiện liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo, mà chỉ quy định ở mức nguyên tắc, giao các văn bản chuyên ngành quy định cụ thể, nhằm bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực đào tạo.

- Dự thảo đã lược bỏ các nội dung mô tả chi tiết về định hướng chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo và yêu cầu đầu ra của từng trình độ, chuyển sang tiếp cận theo cấp độ chương trình giáo dục và nguyên tắc chung. Việc điều chỉnh này nhằm bảo đảm phân định rõ phạm vi giữa Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các quy định về chuẩn chương trình, chuẩn đầu ra.

- Dự thảo lược bỏ cách tiếp cận mô tả hệ thống giáo dục theo từng bậc học và tuyến đào tạo gắn với sơ đồ hành chính, mà chuyển sang phân loại theo các cấp độ chương trình giáo dục (từ cấp độ 0 đến cấp độ 8). Cách tiếp cận mới phù hợp với phân loại giáo dục quốc tế và tạo cơ sở cho việc xây dựng hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông và tiếp cận theo chuẩn năng lực của người học.

- Dự thảo không quy định chi tiết về phân luồng và các tuyến liên thông cụ thể giữa các cấp học và trình độ đào tạo, mà chỉ quy định chung ở mức nguyên tắc nhằm tạo sự linh hoạt trong định hướng học tập, phù hợp với nhu cầu đa dạng của người học và sự phát triển của thị trường lao động; bảo đảm khả năng chuyển tiếp và công nhận kết quả học tập. Các cơ chế cụ thể được thực hiện theo quy định tại các thông tư do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

- Dự thảo tinh giản các quy định chi tiết về thời gian đào tạo theo từng loại hình chương trình (đặc biệt trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học); chỉ giữ quy định ở mức thời gian học tập tiêu chuẩn mang tính khung để bảo đảm tính thống nhất chung của hệ thống.

d) Nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính:

Dự thảo Quyết định quy định về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân không có các quy định cụ thể về thủ tục hành chính. Trong nội dung của Quyết định đã cắt giảm phần mô tả chi tiết như một điều khoản riêng của giáo dục thường xuyên và thay vào đó xác định giáo dục thường xuyên là một cấu phần trong hệ thống giáo dục quốc dân để đơn giản hóa thủ tục hành chính khi xây dựng và triển khai Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.

đ) Nội dung về phân cấp, phân quyền:

Dự thảo Quyết định là văn bản quy định Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, mang tính chất quy định khung về cấu trúc, phân loại và sắp xếp cấu trúc hệ thống giáo dục, không phải là văn bản quy định về tổ chức bộ máy hoặc quản lý hành chính. Do đó dự thảo Quyết định không quy định về nội dung phân cấp, phân quyền; không điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; và không làm thay đổi thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục theo quy định hiện hành.

Các nội dung sửa đổi, bổ sung và lược bỏ nêu trên thể hiện định hướng đổi mới Khung cơ cấu theo hướng tinh gọn, rõ phạm vi, tăng tính linh hoạt và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống giáo dục quốc dân.

V. Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Có hiệu lực từ 07/9/2026)

1. Sự cần thiết, mục đích ban hành

1.1. Sự cần thiết ban hành

a) Cơ sở chính trị, pháp lý

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; đã nêu rõ: “…Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp…” và “…Hoàn thành mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia…”.

Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XI ngày 13/2/2014 chỉ ra sự cần thiết kế lại hệ thống giáo dục Việt Nam;

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Giáo dục mầm non, phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực người học. Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” và “xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy học tập suốt đời.”

Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15 ngày 18/9/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát chuyên đề về việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông trong đó yêu cầu Bộ GDĐT rà soát trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 Điều 1 khoản 3 quy định Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam; quy định về thời gian, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu các cấp học, trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; quy định về thời gian, tiêu chuẩn, đối tượng, khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình giáo dục, đào tạo các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác;

Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 Điều 17 khoản 2 quy định chuẩn chương trình đào tạo bảo đảm phù hợp mục tiêu và các yêu cầu cụ thể của bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam;

Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 Điều 22 khoản 2 quy định chuẩn chương trình đào tạo bảo đảm đáp ứng yêu cầu của từng trình độ tương ứng quy định tại Khung trình độ quốc gia Việt Nam;

Quyết định số 53/QĐ-TTg ngày 15/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình công tác năm 2024 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ GDĐT được giao nhiệm vụ xây dựng dự thảo Quyết định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (thay thế Quyết định số 1981/QĐ-TTg) và Khung trình độ quốc gia Việt Nam (thay thế Quyết định 1982/QĐ-TTg).

b) Cơ sở thực tiễn

Khi Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn vào nền kinh tế toàn cầu và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc điều chỉnh hệ thống giáo dục theo các tiêu chuẩn quốc tế đóng vai trò quan trọng. Điều này bao gồm việc đảm bảo khả năng tương thích với các khuôn khổ quốc tế, thúc đẩy quốc tế hóa trong giáo dục và kiến thức, kỹ năng cho học sinh, sinh viên để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội trong thế kỷ 21.

Việc hoàn thiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam là cần thiết nhằm chuẩn hóa các bậc trình độ đào tạo, làm cơ sở xây dựng chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, công nhận kết quả học tập, liên thông, kiểm định chất lượng và tham chiếu trình độ trong nước, quốc tế.

Học tập suốt đời ngày càng được công nhận là cần thiết cho sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp trong nền kinh tế tri thức. Việc hoàn thiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam có thể thúc đẩy văn hóa học tập suốt đời bằng cách cung cấp các lộ trình học tập linh hoạt, hỗ trợ giáo dục thường xuyên và phát triển chuyên môn liên tục, đồng thời thúc đẩy tư duy sáng tạo và tự hoàn thiện của người học ở mọi lứa tuổi.

Nhìn chung, việc điều chỉnh khung trình độ của hệ thống giáo dục Việt Nam là cần thiết để đảm bảo hệ thống luôn phù hợp, hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của người học, xã hội và hội nhập giáo dục quốc tế.

1.2. Mục đích ban hành

- Thiết lập một hệ quy chiếu quốc gia về chuẩn năng lực đầu ra của người học ở từng trình độ đào tạo, từ sơ cấp đến tiến sĩ, trên cơ sở mô tả đầy đủ các thành tố: kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm.

- Làm căn cứ để xây dựng, rà soát và chuẩn hóa chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo.

- Làm căn cứ để xây dựng, chuẩn hóa đầu vào cho việc xây dựng chương trình đào tạo, kiểm định chất lượng, công nhận văn bằng và phát triển khung năng lực nghề nghiệp, gắn đào tạo với thị trường lao động và yêu cầu hội nhập quốc tế theo các bậc trình độ trong hệ thống giáo dục quốc dân, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, khả năng so sánh và kiểm định chất lượng giáo dục.

- Hỗ trợ người học định hướng lộ trình học tập và phát triển nghề nghiệp, thông qua việc công khai, minh bạch các yêu cầu về kết quả học tập đạt được của từng bậc trình độ, tạo điều kiện cho học tập suốt đời, liên thông và chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo.

- Làm cơ sở cho việc tham chiếu, công nhận và so sánh trình độ, văn bằng và chứng chỉ trong phạm vi quốc gia và quốc tế, góp phần thúc đẩy công nhận lẫn nhau và di chuyển học tập, lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam.

- Phục vụ công tác quản lý nhà nước, thống kê, kiểm định chất lượng và hoạch định chính sách giáo dục, bảo đảm sự đồng bộ giữa Khung trình độ quốc gia và Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.

- Bảo đảm tính tương thích của hệ thống trình độ quốc gia với các chuẩn mực quốc tế (ISCED 2011, EQF, AQRF…), góp phần nâng cao uy tín học thuật và giá trị quốc tế của văn bằng, chứng chỉ giáo dục Việt Nam.

2. Nội dung chủ yếu

2.1. Bố cục của Quyết định

Dự thảo Quyết định gồm 10 Điều, cụ thể như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. 

Điều 2. Giải thích từ ngữ.

Điều 3. Mục đích xây dựng Khung trình độ quốc gia Việt Nam. 

Điều 4. Cấu trúc Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Điều 5. Các bậc trình độ.

Điều 6. Quan hệ giữa cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân và các bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Điều 7. Thời gian học tập tiêu chuẩn và khối lượng học tập tối thiểu theo bậc trình độ.

Điều 8. Tổ chức thực hiện.

Điều 9. Hiệu lực thi hành.

Điều 10. Điều khoản chuyển tiếp.

2.2. Nội dung chủ yếu

a) Nội dung sửa đổi, hoàn thiện

Dự thảo Quyết định cập nhật và hoàn thiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam phù hợp với Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật Giáo dục số 123/2025/QH15; Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15; Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 và các văn bản liên quan.

So với Quyết định số 1982/QĐ-TTg, dự thảo chuyển từ hình thức phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam sang hình thức quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam, qua đó làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mục đích, vai trò, cấu trúc, nguyên tắc mô tả bậc trình độ và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Dự thảo đã rà soát, điều chỉnh cách tiếp cận và cấu trúc Khung trình độ nhằm bảo đảm thống nhất với hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, khắc phục những nội dung không còn phù hợp do thay đổi pháp luật. Khung trình độ quốc gia chuẩn hóa trình độ đào tạo thuộc giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Dự thảo kế thừa cấu trúc 08 bậc trình độ của Quyết định số 1982/QĐ-TTg, đồng thời hoàn thiện cách mô tả các bậc trình độ theo hướng khái quát, rõ ràng và thống nhất hơn, tập trung vào chuẩn đầu ra theo 3 thành phần cốt lõi: kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm của người học.

Dự thảo điều chỉnh cách tiếp cận mô tả bậc trình độ theo hướng mang tính khung, định hướng, không gắn với ngành, nghề, chương trình đào tạo hoặc điều kiện đầu vào cụ thể, qua đó tránh trùng lặp với chuẩn chương trình đào tạo và các quy định chuyên ngành.

Dự thảo làm rõ sự phân định giữa các bậc trình độ và tăng khả năng đo lường chuẩn đầu ra: Dự thảo Quyết định hoàn thiện mô tả các bậc trình độ theo tiếp cận chuẩn đầu ra, làm rõ sự khác biệt giữa các bậc liền kề trên cơ sở ba miền năng lực cốt lõi (kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm), qua đó tăng tính minh bạch và khả năng áp dụng trong xây dựng chuẩn chương trình đào tạo, bảo đảm và kiểm định chất lượng.

Dự thảo hoàn thiện quy định về tổ chức thực hiện theo hướng thống nhất đầu mối, giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và cơ sở đào tạo trong việc hướng dẫn, triển khai, rà soát và cập nhật Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

b) Nội dung bổ sung mới

- Bổ sung quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Các trình độ đào tạo thuộc giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, từ sơ cấp đến tiến sĩ, phù hợp với quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học. Lí do: Phân định Khung trình độ quốc gia Việt Nam và Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, khắc phục tình trạng chồng lấn trong nhận thức và tổ chức thực hiện (Điều 1 dự thảo).

- Bổ sung hệ thống khái niệm và mục đích của Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Lí do: Thống nhất cách hiểu và áp dụng trong toàn bộ hệ thống; tăng tính minh bạch, khả năng tham chiếu, bảo đảm tính tương thích quốc tế (Điều 2, Điều 3 dự thảo).

- Bổ sung quy định về mối quan hệ giữa cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân và các bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Lí do: Nhằm xác lập căn cứ quy chiếu thống nhất giữa cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân với các bậc trình độ của Khung trình độ quốc gia Việt Nam; làm cơ sở xây dựng, rà soát chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập tối thiểu; bảo đảm liên thông, công nhận học tập, kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận văn bằng, chứng chỉ trong nước và quốc tế (Điều 6 dự thảo).

- Bổ sung quy định về chương trình đào tạo tích hợp, chương trình chuyên sâu và các chương trình đặc thù. Lí do: Phù hợp với thực tiễn phát triển chương trình đào tạo hiện nay, đặc biệt trong các ngành đặc thù và mô hình đào tạo tích hợp.

- Chuẩn hóa quy định về khối lượng học tập tối thiểu theo từng bậc trình độ. Lí do: Tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xây dựng chương trình đào tạo, công nhận kết quả học tập và liên thông giữa các trình độ; đồng thời bảo đảm linh hoạt theo điều kiện đầu vào và loại hình chương trình (Phụ lục kèm dự thảo Quyết định).

c) Nội dung lược bỏ

Trên cơ sở rà soát Quyết định số 1982/QĐ-TTg và đối chiếu với hệ thống pháp luật hiện hành, dự thảo Quyết định đã lược bỏ, tinh giản một số nội dung theo hướng bảo đảm Khung trình độ quốc gia Việt Nam:

- Lược bỏ các nội dung mang tính quy định chi tiết các nội dung liên quan đến chương trình, phương thức tổ chức đào tạo và điều kiện tuyển sinh/cấp văn bằng. Lí do: Các nội dung này thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Việc lược bỏ nhằm tránh trùng lặp và bảo đảm đúng phạm vi điều chỉnh của Khung trình độ quốc gia.

- Lược bỏ cách mô tả bậc trình độ gắn với điều kiện đầu vào, lộ trình học tập và tuyến đào tạo cụ thể của người học. Lí do: Chuyển sang tiếp cận theo chuẩn đầu ra, bảo đảm tính linh hoạt, không phụ thuộc vào hình thức đào tạo hoặc con đường học tập.

- Lược bỏ các quy định có thể gây chồng lấn với pháp luật chuyên ngành đối với lĩnh vực đặc thù. Lí do: Đối với các lĩnh vực đào tạo đặc thù (sức khỏe; văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao), các nội dung này trùng lặp, can thiệp sâu vào yêu cầu chuyên môn đặc thù.

- Không tiếp tục quy định gắn cứng giữa bậc trình độ với từng loại văn bằng, chứng chỉ như tại Quyết định số 1982/QĐ-TTg. Lí do: Chuyển sang tiếp cận theo chuẩn đầu ra và khối lượng học tập, đồng thời bảo đảm phù hợp với hệ thống văn bằng, chứng chỉ do pháp luật chuyên ngành quy định.

- Không tiếp tục quy định trực tiếp chuẩn đầu ra về năng lực ngoại ngữ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Lí do: Chuẩn đầu ra ngoại ngữ được mô tả tại chuẩn chương trình giáo dục các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau mà không thể quy định cứng nhắc trong khung. Việc quy định cụ thể chuẩn đầu ra ngoại ngữ cần được thực hiện trong chuẩn chương trình đào tạo theo từng trình độ, lĩnh vực, ngành đào tạo, không quy định cứng trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

- Lược bỏ các nội dung mang tính phân công nhiệm vụ chi tiết, bố trí nguồn lực, kinh phí và các yêu cầu triển khai cụ thể của các bộ, ngành. Lí do: Các nội dung này vượt phạm vi của một quyết định quy định khung và được thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị theo quy định pháp luật.

Việc lược bỏ các nội dung nêu trên thể hiện sự chuyển đổi từ cách tiếp cận mô tả chi tiết sang cách tiếp cận chuẩn hóa theo chuẩn đầu ra, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu quản lý giáo dục hiện đại.

d) Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính

Dự thảo Khung trình độ quốc gia Việt Nam không quy định thủ tục hành chính mới, không sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ thủ tục hành chính hiện hành, không làm phát sinh chi phí tuân thủ đối với tổ chức, cá nhân. Các nội dung gián tiếp giảm tải bao gồm chuẩn hóa đầu ra để cơ sở giáo dục tự động đối chiếu, xây dựng chương trình và không phát sinh thêm thủ tục hành chính xin phép, cấp phép; thống nhất và đơn giản hóa khối lượng học tập đo lường theo tín chỉ.

đ) Nội dung phân quyền, phân cấp

Dự thảo Quyết định không quy định nội dung phân cấp, phân quyền; không làm thay đổi thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục theo quy định hiện hành.

Quy định về chuẩn đầu ra ngoại ngữ theo từng bậc học, chương trình đào tạo thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban hành tại các Thông tư về giáo dục đào tạo và Chuẩn chương trình giáo dục.

Thủ trưởng các cơ sở giáo dục căn cứ vào Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan xây dựng, ban hành các chương trình giáo dục, đào tạo.