VNU Logo
Thư viện sốVNU OfficeE-mailIT ServicesSitemap
  • Logo
  • Giới thiệu
    • Tổng quan
      • Lịch sử
      • Sứ mạng - Tầm nhìn
      • Chiến lược phát triển
      • Thi đua - Khen thưởng
      • Số liệu thống kê
      • Bản đồ Hà Nội
      • Các cơ sở của ĐHQGHN
      • Website kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN
    • Cơ cấu tổ chức
      • Sơ đồ tổ chức
      • Ban Giám đốc
      • Đảng ủy
      • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
      • Văn phòng & ban chức năng
      • Công đoàn ĐHQGHN
      • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
      • Các trường đại học thành viên
      • Các trường trực thuộc
      • Các đơn vị nghiên cứu khoa học
      • Các trung tâm đào tạo môn chung
      • Các đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
      • Văn bản pháp quy
      • Thủ tục hành chính trực tuyến
    • Ba công khai
      • Chất lượng đào tạo
      • Cơ sở vật chất
      • Tài chính
      • Số liệu tổng hợp
    • Báo cáo thường niên ĐHQGHN
    • Ấn phẩm Giới thiệu ĐHQGHN
    • Video
    • Logo ĐHQGHN
    • Bài hát truyền thống
    • Tiến sĩ danh dự của ĐHQGHN
  • Đào tạo
    • Giới thiệu chung
    • Kế hoạch học tập và giảng dạy
    • Chương trình đào tạo bậc đại học
    • Chương trình đào tạo thạc sĩ
    • Chương trình đào tạo tiến sĩ
    • Chương trình đào tạo liên kết
    • Đào tạo hệ THCS và THPT
    • Số liệu thống kê
    • Mẫu văn bằng
    • Văn bản liên quan
  • Khoa học công nghệ
    • Giới thiệu chung
    • Hoạt động Khoa học - Công nghệ
    • Chiến lược KHCN&ĐMST 2021-2030
    • Chương trình, dự án, đề tài
      • Chương trình KHCN cấp Nhà nước
      • Đề tài cấp Nhà nước
      • Chương trình KHCN cấp ĐHQGHN
      • Đề tài cấp ĐHQGHN
      • Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
      • Nghiên cứu ứng dụng
    • Hệ thống phòng thí nghiệm
    • Nhóm nghiên cứu
    • Các hội đồng chuyên môn
    • Quỹ phát triển khoa học & công nghệ
      • Giới thiệu
      • Điều lệ, tổ chức hoạt động
    • Giải thưởng Khoa học - Công nghệ
      • Giải thưởng Hồ Chí Minh
      • Giải thưởng Nhà nước
      • Giải thưởng quốc tế
      • Giải thưởng ĐHQGHN
      • Giải thưởng khoa học sinh viên
      • Các giải thưởng khác
    • Các sản phẩm KHCN
      • Các ấn phẩm
      • Sở hữu trí tuệ
      • Các sản phẩm công nghệ, kỹ thuật
      • Bài báo khoa học
    • Chuyển giao tri thức & hỗ trợ khởi nghiệp
    • Văn bản liên quan
  • Hợp tác & phát triển
    • Giới thiệu chung
      • Lời giới thiệu
      • Đội ngũ
      • Bản tin hợp tác phát triển - PDF
    • Hợp tác quốc tế
      • Đối tác quốc tế
        • Châu Á
        • Châu Âu
        • Châu Đại dương
        • Châu Mỹ
      • Chương trình hợp tác
        • Trao đổi & học bổng
        • Hợp tác nghiên cứu
        • Hội nghị - Hội thảo
      • Mạng lưới hợp tác quốc tế
        • AUF
        • AUN
        • ASAIHL
        • BESETOHA
        • CONFRASIE
        • UMAP
        • SATU
      • Các thỏa thuận hợp tác quốc tế
    • Hợp tác trong nước
      • Các đối tác trong nước
      • Các dự án trong nước
        • Danh mục các nhiệm vụ KHCN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương
        • Trường ĐH Khoa học Tự nhiên
        • Trường ĐH Công nghệ
        • Trường ĐH Kinh tế
        • Viện Việt Nam học và KHPT
        • Viện Vi sinh vật và CNSH
    • Văn bản quản lý
      • Văn bản liên quan
      • Sổ tay Hợp tác quốc tế
  • Sinh viên
    • Giới thiệu chung
    • Học bổng
      • Trong nước
      • Ngoài nước
      • Quy định
      • Tin tức
      • Đăng ký học bổng
    • Hỗ trợ sinh viên
      • Đoàn - Hội
      • Đời sống
      • Các câu lạc bộ
      • Tư vấn, hỗ trợ việc làm
      • Vay vốn
      • Ký túc xá sinh viên
    • Chương trình trao đổi sinh viên
    • Cựu sinh viên
    • Văn bản - Biểu mẫu
  • Cán bộ
    • Giới thiệu chung
    • Số liệu thống kê
      • Theo đối tượng, vị trí việc làm
      • Theo chức danh khoa học và trình độ đào tạo
    • Danh hiệu nhà giáo
      • Nhà giáo Nhân dân
      • Nhà giáo Ưu tú
    • Đội ngũ GS, PGS
      • Các Giáo sư
      • Các Phó giáo sư
    • Tuyển dụng
      • Kênh thu hút nhà khoa học
      • Ứng tuyển & hợp tác
      • Vị trí tuyển dụng
      • Thông tin hữu ích
      • Liên hệ, đề xuất
    • Văn bản liên quan
  • Các đơn vị thành viên
    • Trường đại học thành viên
      • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
      • Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
      • Trường Đại học Ngoại ngữ
      • Trường Đại học Công nghệ
      • Trường Đại học Kinh tế
      • Trường Đại học Giáo dục
      • Trường Đại học Việt Nhật
      • Trường Đại học Y Dược
      • Trường Đại học Luật
    • Trường trực thuộc
      • Trường Quản trị và Kinh doanh
      • Trường Quốc tế
      • Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật
    • Viện nghiên cứu
      • Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
      • Viện Tài nguyên và Môi trường
      • Viện Công nghệ thông tin
      • Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
      • Viện Trần Nhân Tông
      • Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo
        • Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến
        • Viện Nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển bền vững
        • Viện Công nghệ Lượng tử
        • Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ trợ khởi nghiệp
        • Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực
        • Trung tâm hỗ trợ sinh viên
    • Trung tâm đào tạo trực thuộc
      • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
      • Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao
    • Đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Ban Quản lý dự án
      • Ban Quản lý Dự án World Bank
      • Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục
      • Trung tâm Quản lý đô thị đại học
      • Trung tâm Thư viện và Tri thức số
      • Tạp chí Khoa học
      • Viện Đào tạo số và Khảo thí
    • Đơn vị khác
      • Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á
      • Văn phòng Hợp tác ĐHQGHN - ĐH Arizona
      • Văn phòng các chương trình KH&CN trọng điểm ĐHQGHN
      • Quỹ Phát triển KH&CN
      • Quỹ Phát triển ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Cựu sinh viên
VNU Logo

Giấy phép số 993/GP-TTĐT ngày 20/3/2020 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Khu đô thị Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hòa Lạc, Hà Nội

 media@vnu.edu.vn

 

Thứ ba29-10-2013
|Chuyên trang chào mừng 20 năm Chính phủ ban hành Nghị định về Đại học Quốc gia Hà NộiCon người & Thành tựu

GS. Đinh Gia Khánh - Người thầy của những khởi đầu

Lỗ Tấn đã từng nói: “Trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học cũng vậy, có những lĩnh vực, khi người nghiên cứu khởi nghiệp, nó chưa từng (hoặc gần như chưa từng) được ai rẽ lối đi vào.

Khoa nghiên cứu văn học dân gian, văn học trung đại và văn hoá dân gian Việt Nam sau năm 1945 là những mảnh đất còn để ngỏ. Nó cần lắm một con đường và hơn cả là một người mở đường tài năng và tâm huyết. GS. Đinh Gia Khánh là một người như thế và ông đã trở thành một người mở đường xuất sắc vào kho tàng văn học - văn hoá truyền thống của nước nhà.
GS. Đinh Gia Khánh sinh ngày 25/12/1924, tại Thái Bình nhưng quê gốc của ông là xã Lạc Khoái, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Trước Cách mạng tháng Tám 1945 ông tốt nghiệp Thành chung rồi tốt nghiệp tú tài Ban Sinh ngữ tại trường Bưởi. Đang học dở năm thứ nhất Đại học Luật thì cách mạng thành công, anh sinh viên Đinh Gia Khánh đi theo cách mạng và cũng từ đấy gắn bó đời mình với sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp nghiên cứu văn học dân tộc. Ra đi từ trường Bưởi, tháng 9 năm 1945 ông quay lại đây làm giáo sư trung học giảng dạy triết học và tiếng Anh, cho tới khi kháng chiến bùng nổ (12 - 1946). Tạm biệt mái trường, ông đã cùng mọi người bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại với một niềm tin tất thắng. Người thầy giáo trẻ Đinh Gia Khánh đã từng có một thời gian làm báo tại trung đoàn Thăng Long. Như một duyên nghiệp, tháng 4 năm 1947 ông nhận nhiệm vụ giảng dạy tại Trường Trung học Hàn Thuyên (Bắc Ninh) và cuộc đời ông gắn bó với nghề giáo từ đó tới tận sau này. Đối với một thầy giáo mới vào nghề, một tấm lòng nhân hậu và một khối óc hiếu học là điều không thể thiếu, thầy giáo trẻ Đinh Gia Khánh có đủ hai phẩm chất đó và đấy chính là một trong những nền tảng làm nên bệ đỡ khoa học cho ông trong sự nghiệp nghiên cứu của mình. Năm 1951, ông sang dạy tại Trường Sư phạm tại Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc. Từ tháng 9 năm 1956, ông về giảng dạy văn học và Hán Nôm tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN) và gắn bó với nơi này, trở thành một trong những người thầy tài năng, uyên bác, vươn lên nhờ tự học và có tuổi nghề bằng với tuổi của nước Việt Nam độc lập - một điều không phải ai cũng có được. Khi tốt nghiệp trung học, ông đã rất giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp và sau này còn tự học thêm tiếng Nga, tiếng Đức ở một mức độ nhất định làm công cụ thu nạp tinh hoa văn hóa nhân loại. Vốn Hán học của ông, dù là tự học, nhưng thuộc lớp những người uyên thâm ở nước ta sau hoà bình lập lại. Năm 1980, ông được phong học hàm Giáo sư ngành Văn học dân gian, mà học trò vẫn thích gọi ông là “giáo sư kép”, bởi trên lĩnh vực Văn học - Văn hoá dân gian hay Văn học trung đại ông đều rất xứng đáng với học hàm này. Trước khi nghỉ hưu (1999), ông đã từng làm chuyên gia nghiên cứu cấp cao của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Dù ở cương vị nào ông cũng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Ông không chỉ là nhà nghiên cứu với các công trình có tính chất gợi mở, là nhà giáo đào tạo cho đất nước nhiều thế hệ cán bộ khoa học tài năng mà còn là một nhà quản lý khoa học trong vai trò người sáng lập Viện nghiên cứu văn hoá dân gian và Tạp chí Văn hoá dân gian, nơi ông nhiều năm giữ cương vị Viện trưởng (1984 - 1986) và Tổng biên tập (1983 - 1991). Trong sự nghiệp của ông, ẩn đằng sau những trước tác đồ sộ và giá trị, là cả một tình yêu sâu sắc đối với di sản văn học - văn hoá mà người xưa để lại. Ông đã viết đầy tự hào rằng: “Chúng ta là như thế này đây mà không phải là như thế nào khác, chính là vì đã có truyện Lạc Long Quân - Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở trăm con, Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ Tinh, truyện Thánh Gióng đuổi giặc Ân, Thạch Sanh bắn đại bàng, cô Tấm sống lại từ cõi chết; chính là vì đã có hát xoan, hát văn, hát lý, hát quan họ, hát phường vải...; chính là vì đã có thơ của Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Chu An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát; chính là vì đã có Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Hịch Tây Sơn của Nguyễn Huệ; chính là vì đã có Đường kách mệnh và Bản án chế độ thực dân Pháp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc”. Bên cạnh tài năng, hẳn sẽ không có một học giả lớn nếu thiếu một tình yêu, một lòng tự hào như thế.
Trong suốt những năm tháng GS. Đinh Gia Khánh giảng dạy và nghiên cứu dưới mái trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ấn tượng sâu sắc ông để lại trong bao thế hệ học trò là vóc người cao gầy, mảnh khảnh, giọng nói nhanh và dáng đi vội vã như chạy đua với thời gian và công việc. Tấm lòng nhân hậu của ông được nhiều người noi theo để tự sửa mình nhưng khả năng làm việc với cường độ cao như ông thì ít người theo kịp. Ông nghiêm khắc với bản thân và là một người “khổ học”. Ngoài giờ lên lớp, soạn bài, chấm bài, không lúc nào ông không ngồi bên bàn mải mê đọc, ghi chép và viết. Trong trường hợp bất khả kháng, như có hội nghị ông không quan tâm nhưng lại không thể vắng mặt, ông xếp giấy đặt bút viết ngay tại hội trường và khi hội nghị kết thúc thì bài viết cũng hoàn thành. Khả năng làm việc của ông còn thể hiện trong các công trình tập thể, tập hợp sức lực cống hiến của nhiều người mà trong đó ông giữ vai trò quy tụ, chỉ đạo bằng uy tín khoa học và khả năng tập hợp đội ngũ của mình. Với kiến thức uyên bác bao trùm nhiều lĩnh vực, khi Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trương biên soạn và xuất bản Tổng tập văn học Việt Nam - bộ tùng thư bề thế của thời đại - do ông đề xuất, ông được cử làm Tổng chủ biên và sau gần 25 năm làm việc miệt mài trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, cách đây 5 năm bộ sách đã được xuất bản trọn bộ 42 tập, ôm trùm suốt 10 thế kỷ văn học viết nước ta cho đến năm 1945. Đây là bộ sách biên soạn công phu, có tính hệ thống và khoa học nhất từ trước đến nay. Là một nhà khoa học có uy tín, GS. Đinh Gia Khánh luôn cẩn trọng, nghiêm túc, chỉ viết và nói những gì mình biết đến nơi đến chốn. Ông cho rằng: “Một trong những nguyên tắc chúng ta đề ra đối với việc nghiên cứu khoa học là tính hiện đại. Đối với việc nghiên cứu di sản văn học quá khứ của dân tộc, tính hiện đại trước hết là dựa vào phương pháp duy vật lịch sử (…), đặt hiện tượng vào hoàn cảnh lịch sử của nó mà phân tích đánh giá (...), không sa vào lối phân tích (...) lấy những tiêu chuẩn chính trị và xã hội ngày nay để đánh giá con người và sự việc ngày xưa”. Là người ham thích cái mới cả về tư tưởng, lý luận và phương pháp, luôn cập nhật tri thức hiện đại nên dưới ngòi bút của ông, các tác giả - tác phẩm trung đại trở nên gần gũi với đời sống hôm nay hơn. Trong cuộc đời và trong đạo học của mình, GS. Đinh Gia Khánh luôn mang phong cách một người thầy tôn trọng nguyên tắc và đạo lý của chữ tín, chữ lễ, chữ nghĩa của người xưa. Đằng sau tác phong bận rộn, vội vã của ông, những ai đã từng tiếp xúc với bậc thầy đầu ngành của nền giáo dục Việt Nam này mới thấy hết chất trí tuệ, minh triết phương Đông trong con người ông.
Đi vào nghiên cứu văn học - văn hoá truyền thống, GS. Đinh Gia Khánh muốn ôn cố tri tân, từ tầm cao lịch sử nhìn lại di sản quá khứ và thay đổi hệ quy chiếu để tiến tới nhận thức những giá trị này một cách đầy đủ hơn. Từ điều kiện lịch sử và môi trường học thuật đặc thù (là lớp giáo sư đầu ngành và đầu đàn) ông phải xuất phát gần như từ con số không, nâng mình lên ngang tầm nhiệm vụ để biên soạn các bộ giáo trình lịch sử văn học cơ bản. Thời đó, ở Việt Nam chưa có giáo trình về lịch sử văn học đúng nghĩa của nó, ông và cộng sự đã phải mày mò vừa làm vừa rút kinh nghiệm để có được 2 bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam và Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII dày dặn, mỗi bộ trên dưới 2.000 trang. Trong những trang viết mà ông hiểu và yêu một cách sâu sắc đó, ông đã kết hợp tư duy khái quát và tư duy phân tích giúp người đọc nắm vững những tri thức văn học và hơn cả là sự chăm lo đến tính tư tưởng trong từng chi tiết. Nhiều khái niệm, thuật ngữ ông dùng trong đó vẫn được sử dụng rộng rãi và nói như GS. Nguyễn Xuân Kính thì “đây là một thành tựu khó vượt qua về tính chất hoàn chỉnh và tính toàn diện (...) thể hiện ở hệ thống các vấn đề, các chương mục và trong việc phân tích, lý giải từng vấn đề”. Trong từng khía cạnh, ông khai thác những vấn đề tưởng như nhỏ hẹp và nâng tầm trên cơ sở tổng kết, khái quát từ tính chuyên sâu, điển hình của nó. Hướng nghiên cứu khái quát này đòi hỏi sự kiên trì và vốn kiến văn sâu rộng, năng lực tư duy tổng hợp mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng làm được. Ông có thể khảo tả đến cầu toàn trên từng chi tiết để đưa ra tính vấn đề của đề tài, đưa ra những trang khảo cứu kiểu mẫu cho những nhà khoa học trẻ. Bên cạnh đó, trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu như Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám ông đã đặt ra nhiều vấn đề mang tính lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới mẻ ở Việt Nam từ cuối những năm 1960 của thế kỷ trước. Cùng với cuốn Người anh hùng làng Dóng của GS. Cao Huy Đỉnh, đây là một thành tựu đáng kể, một cuốn sách đại diện cho cách nghiên cứu đặc trưng thể loại - thẩm mỹ của truyện cổ tích qua việc khảo sát một tác phẩm tiêu biểu đứng đầu.
GS. Đinh Gia Khánh là một người sớm thoát khỏi các nguyên tắc ngữ văn học cổ điển trong việc nhìn nhận, lý giải các hiện tượng, các vấn đề chuyên môn. Ở con người ông, sự nhạy cảm và sự uyên bác như hoà vào làm một. Chính điều này đã làm nên vai trò kiến tạo nổi bật trong sự nghiệp của ông. Với ngành nghiên cứu văn hoá dân gian, cả ở góc độ nghiên cứu, giảng dạy và quản lý ông đều là người mở đường, định hướng và đặt nền móng cho bộ môn khoa học non trẻ này từ khi còn là ý tưởng. Ông như có khả năng “tiên tri, tiên giác” khi đưa ra những định đề khuôn mẫu, những hệ vấn đề cơ bản cho ngành văn hoá học. Ngay từ sớm, trong các trang viết, ông đã quan tâm tới các yếu tố đã góp phần tạo nên những giá trị nhân văn tốt đẹp nhất trong con người Việt Nam, bản chất sự phát triển của nền văn hoá dân tộc. Cuốn Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian (1989) của ông là công trình đạt tới sự khái quát cao, đặt ra các vấn đề lý thuyết và phương pháp luận cho bộ môn này, là sách gối đầu giường cho các nhà nghiên cứu về văn hoá. Việc ông nhìn ra vai trò của văn hoá dân gian trong đời sống hiện đại là sự kế thừa cách nhìn “lấy căn rễ văn hoá từng thời đại làm điểm tựa lý giải vấn đề” trong hai bộ giáo trình mang tính sư phạm - hàn lâm của ông và đồng nghiệp ngày trước. Công trình Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á (1993) có lẽ là công trình đầu tiên ở nước ta đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Cảm quan khoa học nhạy bén ấy cũng giúp ông sớm nhìn ra vai trò của nghiên cứu liên ngành để góp phần phân tích, lý giải và nhấn mạnh khía cạnh loại biệt trong một hệ đối tượng được đánh giá. Trong những năm cuối đời, dù tuổi cao nhưng ông vẫn hăng say làm việc với một sự nghiêm túc đáng kính. Ông không thoả mãn với những tri thức đã có, không tự nhốt mình trong lâu đài khoa học mà ông xây dựng lên. Năm 1996, ông cùng với 4 nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nữa vinh dự được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Trong cuộc đời mỗi người thầy, niềm vui lớn nhất là sự trưởng thành của các thế hệ học trò mà mình đã ra công dìu dắt. GS. Đinh Gia Khánh là người được hưởng trọn vẹn niềm vui đó với hàng chục thế hệ học trò của ông lớn lên từ mái trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước và trong đó có nhiều người đã thành danh như các giáo sư Bùi Duy Tân, Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế, Nguyễn Xuân Kính... và không ít người đã đạt tới trình độ cao trong nghiên cứu và giảng dạy. Các học trò luôn tự hào về ông và nhớ về ông như một điểm tựa về học thuật và tinh thần. Văn học Việt Nam cổ đại - cận đại - dân gian thường ít người muốn theo vì khó và khô nhưng ông rất có tài biến chúng thành những câu chuyện, những bài giảng dễ hiểu, dễ nhớ. Ông cứ ung dung chắp tay, đi đi lại lại đối thoại với sinh viên mà không dùng đến tài liệu, giáo án. Những bài giảng đó bao giờ cũng sâu sắc và đầy phát hiện, được diễn đạt bằng một lối nói hóm hỉnh, thông minh và súc tích khiến cho sinh viên có cảm giác “giờ thầy dạy bao giờ cũng trôi đi rất nhanh và lần nào đứng lên chào thầy chúng tôi cũng có cảm giác tiếc rẻ thèm thuồng” (Trần Bảo Hưng). Tuy nhiên, ông cuốn hút và hấp dẫn sinh viên bằng trí tuệ uyên bác và bằng cả tấm lòng tận tụy, yêu nghề, yêu trò hết mực. Ông luôn trẻ mãi trong mắt học trò vì đã sống đúng với phương châm “Chỉ có tri thức là không bao giờ chịu già” và bí quyết “Để trẻ mãi, mỗi ngày nên học một điều mới”. Ông là đại biểu của tinh thần “Thu lấy tinh hoa nghìn bộ sách - Truyền cho tử đệ bốn phương trời” như GS. Vũ Khiêu từng ca ngợi. Như một dòng sông chở nặng phù sa tri thức nhưng suốt đời ông sống khiêm tốn, giản dị, thậm chí ẩn mình sau các công trình khoa học. Không ồn ào, ông chỉ lặng lẽ với một văn phong hấp dẫn có sự nâng đỡ của tri thức và tâm hồn để chinh phục người đọc, người nghe. Tên ông đã trở nên quen thuộc với bạn nghe đài qua hàng trăm bài về các chủ đề: văn hoá và dân tộc; văn hoá và trí thức trong sự nghiệp giữ nước... mà ông viết.
Ngày 07 – 05 - 2003, ông từ trần tại Hà Nội, ngày đó là một cái tang chung của giới nghiên cứu khoa học Việt Nam nói chung và khoa học xã hội nhân văn nói riêng. Sự ra đi của ông để lại một khoảng trống học thuật mà còn lâu nữa các thế hệ kế tiếp mới có thể bù lấp được. Ông được xem như một cây đại thụ toả bóng suốt nửa thế kỷ qua trong giới khoa học nước nhà mà cho đến nay chưa ai có đủ điều kiện để đánh giá những đóng góp và cống hiến của ông. Vị chủ soái của ngành nghiên cứu văn học truyền thống, một trí thức lớn, một nhà giáo lão thành, một nhà khoa học đầu ngành, một nhà văn hoá lớn đã ra đi nhưng trong tâm trí những người gần gũi và biết về ông, ông mãi là một “Người Hiền” - như nhận xét của GS. Trần Thanh Đạm. Để ghi nhận những cống hiến to lớn của ông, Nhà nước đã phong tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội nhân văn, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất.... và nhiều danh hiệu cao quý khác. Công trình Nền văn minh Việt Nam ông dự định viết vẫn còn dang dở nhưng những di sản tinh thần ông để lại thật lớn lao. Cầm những cuốn sách, những công trình, những bài báo... của ông trên tay, bao thế hệ học trò và bè bạn tưởng chừng ông đang ở đâu đây, gần gũi và khiêm nhường như hồi ông còn sống, trong vị trí của người "mở đường", kiến tạo...
 
Trần Nho Thìn - Phạm Văn Hưng - 100 Years - Vietnam National University, Hanoi – 2006. - 100 Years - Vietnam National University, Hanoi – 2006.
avatar
send icon

Có thể bạn quan tâm

  • Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930-1975)
  • Căn cứ khoa học về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
  • Giảm thiểu ô nhiễm thạch tín (Asen) trong nước ngầm tầng nông
  • Đại học Quốc gia Hà Nội: Đổi mới, tiên phong trong đào tạo chất lượng cao
  • Đại học Quốc gia Hà Nội: Kỳ vọng một tầm nhìn
  • CÓ 107 CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO TIẾN SĨ Ở ĐHQGHN
  • CÔNG TÁC CHUYỂN ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO CHUẨN ĐẦU RA Ở ĐHQGHN
Chia sẻ
Share on Facebook
Share on Zalo
Danh mục

Thông tin hoạt động

Con người & Thành tựu

Kế hoạch tổ chức