![]() |
Cách đây tròn 120 năm, ngày 16/5/1906, Đại học Đông Dương – tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội – được thành lập, đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục đại học hiện đại đầu tiên ở Việt Nam. Sự xuất hiện của Đại học Đông Dương đã từng bước thay thế nền Nho học truyền thống bằng hệ thống tri thức khoa học, kỹ thuật và y học hiện đại; đồng thời đặt nền móng cho việc đào tạo bài bản nhiều lĩnh vực như y khoa, luật học, kỹ thuật… tại Việt Nam.
![]() |
![]() |
Sự ra đời của Đại học Đông Dương cũng góp phần hình thành một thế hệ trí thức mới mang tư duy khoa học, tinh thần lý tính và khả năng tiếp cận tri thức toàn cầu. Từ mái trường này, nhiều cựu sinh viên đã trở thành những nhân vật tiêu biểu của đất nước trên các lĩnh vực chính trị, khoa học, giáo dục, văn học, nghệ thuật… góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển và hiện đại hóa quốc gia.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai giảng Đại học Quốc gia Việt Nam, ngày 15/11/1945 |
Năm 1945, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc. Trong bối cảnh ấy, ngày 15/11/1945, tại Giảng đường lớn của Đại học Đông Dương ở số 19 Lê Thánh Tông – nay là Giảng đường Ngụy Như Kon Tum – đã diễn ra Lễ khai giảng đầu tiên của nền giáo dục đại học Việt Nam độc lập với sự tham dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tại buổi lễ lịch sử này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam mới, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, đã khẳng định vai trò của nền đại học mới đối với tương lai dân tộc, không chỉ trong công cuộc đấu tranh giành độc lập mà còn trong hành trình kiến tạo và phát triển văn hóa, tri thức của đất nước. Những tư tưởng được phát biểu tại lễ khai giảng ấy có thể xem như bản tuyên ngôn đầu tiên về sứ mệnh của ĐHQGHN – một trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phụng sự quốc gia – và cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.
![]() |
Tiếp nối truyền thống đó, năm 1993, Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ với sứ mệnh là đại học trọng điểm quốc gia, trung tâm đào tạo chất lượng cao, trình độ cao gắn với nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực; giữ vai trò nòng cốt và đầu tàu đổi mới của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, từng bước vươn tầm khu vực và quốc tế.
Sau 120 năm phát triển, từ tiền thân là Đại học Đông Dương, ĐHQGHN hôm nay đã không ngừng lớn mạnh, khẳng định vị thế là đại học hàng đầu Việt Nam với nhiều dấu ấn tiên phong trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
![]() |
| ||
Khi mới thành lập, ĐHQGHN chỉ có 3 trường đại học thành viên là Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và Trường ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội.
Đến nay, ĐHQGHN đã cơ bản hoàn chỉnh cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực với 9 trường đại học thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Công nghệ, Trường ĐH Ngoại ngữ, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH Giáo dục, Trường ĐH Việt Nhật, Trường ĐH Y dược, Trường ĐH Luật); 3 trường trực thuộc (Trường Quốc tế, Trường Quản trị và Kinh doanh, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật) và 6 viện nghiên cứu thành viên và trực thuộc (Viện Công nghệ Thông tin, Viện Công nghệ Sinh học và Vi sinh vật, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Viện Tài nguyên và Môi trường, Viện Trần Nhân Tông, Viện Đào tạo số và Khảo thí).
Quy mô đào tạo của ĐHQGHN hiện đã đạt hơn 70.000 sinh viên, trong đó khối ngành kỹ thuật, công nghệ và khoa học sức khỏe chiếm khoảng 35%. Với cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực cùng quy mô đào tạo ngày càng mở rộng, ĐHQGHN đã phát triển mạnh mẽ từ nền tảng khoa học cơ bản để trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu có tiềm lực toàn diện, đủ khả năng tham gia giải quyết các bài toán khoa học công nghệ trọng điểm của đất nước, kể cả ở những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và vi mạch, tự động hóa, vật liệu và năng lượng mới, hàng không vũ trụ, công nghệ sinh học…
![]() |
Bên cạnh đó, với chủ trương “One VNU”, ĐHQGHN triển khai cơ chế liên thông và chia sẻ đội ngũ cán bộ cơ hữu trong toàn hệ thống, qua đó bảo đảm nguồn nhân lực cho việc mở ngành, tổ chức đào tạo và phát triển hệ thống chương trình đào tạo ngày càng phong phú, đa dạng. Năm 1993, ĐHQGHN chỉ có vài chục chương trình đào tạo, tính đến tháng 12/2025, toàn ĐHQGHN đã có 438 chương trình đào tạo, trong đó có 162 chương trình đào tạo bậc đại học, 160 chương trình đào tạo thạc sĩ và 116 chương trình đào tạo tiến sĩ.
![]() |
ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam triển khai đào tạo trình độ sau đại học. Những luận án phó tiến sĩ đầu tiên (nay là tiến sĩ) và tiến sĩ khoa học đầu tiên của Việt Nam đã được bảo vệ tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào các năm 1976 và 1982.
Hiện nay, ĐHQGHN triển khai đào tạo liên thông từ bậc trung học cơ sở đến tiến sĩ. Bên cạnh các trường THPT chuyên có truyền thống và thành tích hàng đầu cả nước như Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên (thuộc Trường ĐH Khoa học Tự nhiên) và Trường THPT chuyên Ngoại ngữ ngữ (thuộc Trường ĐH Ngoại ngữ), ĐHQGHN tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục phổ thông với sự ra đời của Trường THPT Khoa học Giáo dục (thuộc Trường ĐH Giáo dục) và Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn).
![]() |
Trong đó, học sinh Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên nhiều năm liên tiếp khẳng định vị thế dẫn đầu khối trường chuyên của Việt Nam trên các đấu trường Olympic quốc tế và khu vực với tổng cộng 317 huy chương, gồm 83 huy chương vàng, 91 huy chương bạc và 79 huy chương đồng. Từ môi trường giáo dục này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và lãnh đạo tiêu biểu của đất nước đã trưởng thành và cống hiến.
Bên cạnh các chương trình đào tạo hệ chuẩn, ĐHQGHN sớm xây dựng những mô hình đào tạo đặc biệt nhằm phát hiện, bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Năm 1997, lần đầu tiên tại Việt Nam, ĐHQGHN triển khai Dự án “Đào tạo cử nhân khoa học tài năng”; đến năm 2001, dự án được mở rộng và đổi tên thành “Đào tạo nguồn nhân lực tài năng”, đồng thời tăng cường đầu tư học bổng cho học viên cao học, nghiên cứu sinh xuất sắc thuộc các ngành khoa học cơ bản, khoa học tự nhiên và các chương trình đào tạo chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Qua đó, bên cạnh truyền thống đào tạo học sinh năng khiếu ở bậc phổ thông chuyên, ĐHQGHN trở thành trường đại học đầu tiên của Việt Nam triển khai bài bản công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài ở cả bậc đại học và sau đại học.
Dự án hướng tới phát huy thế mạnh về đội ngũ chuyên gia đầu ngành, cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học của ĐHQGHN để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và các ngành kinh tế - xã hội mũi nhọn; đồng thời cung cấp đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quản lý và chuyển giao công nghệ cho hệ thống giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trên cả nước.
![]() |
Giai đoạn 1997–2005, chương trình đã thu hút 1.940 sinh viên, 387 học viên cao học và 156 nghiên cứu sinh tham gia. Những kết quả đạt được sau gần một thập kỷ triển khai đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao, trở thành cơ sở quan trọng để nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển mô hình đào tạo tài năng, chất lượng cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Từ năm 2006, nhằm đẩy mạnh hội nhập quốc tế, ĐHQGHN tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo tiên tiến sử dụng chương trình, giáo trình của các trường đại học nước ngoài, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh với sự tham gia của giảng viên trong nước và quốc tế. Đây là bước đi quan trọng trong quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học, tạo tiền đề để ĐHQGHN từng bước tiếp cận các chuẩn mực đào tạo tiên tiến của thế giới.
![]() |
Tiếp nối các chương trình đào tạo tiên tiến, từ năm 2007, ĐHQGHN chủ động triển khai các chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế, còn gọi là Đề án các chương trình đào tạo nhiệm vụ chiến lược (ban đầu được biết đến với tên gọi chương trình 16-23). Mục tiêu của đề án không chỉ dừng ở việc quốc tế hóa chương trình đào tạo mà hướng tới xây dựng và phát triển đồng bộ cả ngành, chuyên ngành theo chuẩn quốc tế, từ đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu đến năng lực nghiên cứu và quản trị đại học. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và năng lực cạnh tranh quốc tế của ĐHQGHN, qua đó góp phần thúc đẩy đổi mới căn bản giáo dục đại học Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế.
Từ định hướng phát triển đó, năm 2018, lần đầu tiên hai Đại học Quốc gia của Việt Nam lọt vào top 1000 đại tốt nhất trong bảng xếp hạng QS thế giới; đến năm 2025, ĐHQGHN vươn lên nhóm 851–900 thế giới. Cũng trong năm này, 12 lĩnh vực đào tạo của ĐHQGHN được xếp hạng quốc tế, trong đó nhiều lĩnh vực nằm trong nhóm 400-500 thế giới.
![]() |
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, từ năm 2017, ĐHQGHN tiếp tục tạo dấu ấn đột phá khi triển khai Đề án đổi mới đào tạo tiến sĩ và ban hành Quy chế tuyển sinh, đào tạo tiến sĩ mới theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Quy chế đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, công bố quốc tế đối với nghiên cứu sinh cũng như đội ngũ giảng viên hướng dẫn; đồng thời gắn quá trình đào tạo tiến sĩ với hoạt động nghiên cứu trong các bộ môn, phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu mạnh. ĐHQGHN cũng mạnh dạn trao quyền tự chủ học thuật cao hơn cho giảng viên hướng dẫn và đơn vị chuyên môn, tạo môi trường đào tạo nghiên cứu thực chất theo mô hình của các đại học tiên tiến trên thế giới.
Đặc biệt, quy chế cho phép đặc cách bỏ qua phản biện kín đối với những nghiên cứu sinh có thành tích nghiên cứu xuất sắc với các công bố quốc tế chất lượng cao. Những đổi mới này đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển đội ngũ khoa học trình độ cao của ĐHQGHN. Gần đây nhất, từ năm 2024, Trường ĐH Công nghệ trở thành trường đại học công lập đầu tiên của Việt Nam thực hiện miễn toàn bộ học phí và cấp học bổng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh.
![]() |
Không chỉ tiên phong trong đào tạo và bồi dưỡng nhân tài thông qua các chương trình đặc biệt, ĐHQGHN còn là một trong những cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học thông qua việc xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học.
Với triết lý “đào tạo thông qua nghiên cứu”, ngay từ năm 2004, tại phiên họp lần thứ X của Hội đồng Khoa học và Đào tạo do cố GS.VS Nguyễn Văn Đạo chủ trì, ĐHQGHN đã xác định rõ các tiêu chí cốt lõi của một đại học nghiên cứu như chất lượng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu, tỷ lệ đào tạo sau đại học, chất lượng công bố quốc tế, sáng chế, giải thưởng khoa học công nghệ… Từ đó, ĐHQGHN từng bước định hình chiến lược phát triển theo chuẩn mực quốc tế thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo sau đại học và đầu tư cho các nhóm nghiên cứu với sự tham gia tích cực của nghiên cứu sinh và sinh viên.
ĐHQGHN cũng tiên phong mở nhiều ngành và chuyên ngành thí điểm chưa có trong danh mục đào tạo của Nhà nước như công nghệ nano, công nghệ bán dẫn, công nghệ hàng không vũ trụ, an ninh phi truyền thống hay biến đổi khí hậu. Nhiều chương trình do ĐHQGHN khởi xướng sau đó đã được đưa vào hệ thống mã ngành quốc gia như Hóa dược, Kinh tế phát triển, Luật kinh doanh, Ngôn ngữ Nhật hay Đo lường và đánh giá trong giáo dục. Tính đến tháng 5/2026, ĐHQGHN đang triển khai 89 chương trình đào tạo thí điểm ở cả ba bậc đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, tạo nên những dấu ấn riêng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Ngay từ năm 1995, với tầm nhìn chiến lược về đảm bảo chất lượng giáo dục, ĐHQGHN đã thành lập Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục – tiền thân của các đơn vị chuyên trách về khảo thí, kiểm định và đảm bảo chất lượng hiện nay. Trung tâm đã có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng tiêu chí đảm bảo chất lượng, xếp hạng đại học, phát triển bài thi đánh giá năng lực chuẩn hóa, đồng thời tiên phong mở ngành đào tạo về đo lường và đánh giá trong giáo dục ở trình độ thạc sĩ và tiến sĩ đầu tiên tại Việt Nam. Những thành tựu này tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong của ĐHQGHN trong lĩnh vực khảo thí, kiểm định và đảm bảo chất lượng giáo dục theo chuẩn mực quốc tế.
ĐHQGHN cũng là một trong những đơn vị triển khai thành công mô hình đào tạo theo tín chỉ sớm nhất cả nước. Từ năm 2006, ĐHQGHN bắt đầu áp dụng các yếu tố tích cực của phương thức đào tạo tín chỉ và đến năm 2010 đã triển khai toàn diện trong toàn hệ thống. Các chương trình đào tạo được thiết kế theo chuẩn đầu ra, tạo điều kiện phát huy thế mạnh liên thông, liên kết giữa các đơn vị, thúc đẩy các chương trình liên ngành, song bằng và mô hình đào tạo tích hợp. Nhờ cơ chế tích lũy tín chỉ linh hoạt, đến nay đã có hơn 5.000 sinh viên được cấp bằng kép và gần 1.000 sinh viên tốt nghiệp sớm từ một đến hai học kỳ.
![]() |
| Hằng năm, ĐHQGHN tổ chức nhiều đợt thi đánh giá năng lực, cung cấp căn cứ xét tuyển quan trọng cho các trường đại học, học viện trên cả nước |
ĐHQGHN cũng là đơn vị tiên phong trong đổi mới tuyển sinh đại học theo phương thức đánh giá năng lực. Từ năm 2014, ĐHQGHN bắt đầu thí điểm sử dụng bài thi đánh giá năng lực để tuyển chọn sinh viên vào các chương trình tài năng và chất lượng cao, đồng thời chủ động xây dựng hệ thống bài thi chuẩn hóa theo hướng hiện đại. Từ năm 2015, ĐHQGHN triển khai toàn diện tuyển sinh đại học chính quy bằng phương thức đánh giá năng lực, mở ra một hướng tiếp cận mới trong tuyển sinh đại học ở Việt Nam.
Với cấu trúc đề thi có độ bao quát và phân hóa cao, kết quả được xử lý nhanh, khách quan bằng công nghệ chấm thi tự động, cùng khả năng tổ chức nhiều đợt thi trong năm để thí sinh chủ động lựa chọn, phương thức này đã nhận được sự đồng tình, đánh giá tích cực từ xã hội. Thành công của mô hình tuyển sinh theo đánh giá năng lực tại ĐHQGHN không chỉ góp phần giảm áp lực cho các kỳ thi truyền thống mà còn tạo ảnh hưởng rộng lớn trong hệ thống giáo dục đại học. Đến nay, hàng trăm trường đại học trên cả nước đã sử dụng kết quả kỳ thi đánh giá năng lực của ĐHQGHN để tuyển sinh.
Đối với hệ thống trường chuyên, từ năm 2014, ĐHQGHN cũng tiên phong xây dựng cơ chế đặc thù nhằm phát hiện và thu hút học sinh xuất sắc vào học đại học ngay từ bậc phổ thông. Các tiêu chí và quy định xét tuyển thẳng dành cho học sinh chuyên ưu tú vào các đơn vị đào tạo của ĐHQGHN đã góp phần thu hút nhiều học sinh giỏi theo học các ngành khoa học cơ bản, tiếp nối và phát huy truyền thống đào tạo nhân tài của ĐHQGHN.
Cũng từ năm 2014, ĐHQGHN là đại học đầu tiên trong cả nước triển khai rà soát, xây dựng và ban hành quy hoạch phân tầng ngành nghề đào tạo. Đây được xem là định hướng chiến lược quan trọng, đóng vai trò kim chỉ nam cho hoạt động đào tạo, tổ chức bộ máy và phát triển hệ thống ngành nghề của ĐHQGHN trong giai đoạn mới.
![]() |
Các chương trình đào tạo của ĐHQGHN được xây dựng trên cơ sở tham khảo mô hình và chuẩn đào tạo của nhiều trường đại học tiên tiến trên thế giới. Với triết lý “đào tạo thông qua nghiên cứu”, ĐHQGHN chú trọng phát triển các nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ cao và tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ. Đến tháng 5/2026, toàn ĐHQGHN đã hình thành hàng trăm nhóm nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, trong đó có 50 nhóm nghiên cứu mạnh được công nhận cấp ĐHQGHN. Các nhóm nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, mở ngành đào tạo mới, thành lập các bộ môn và phòng thí nghiệm mới trong toàn hệ thống.
Từ thực tiễn triển khai hiệu quả mô hình nhóm nghiên cứu mạnh, ĐHQGHN cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành cơ chế, chính sách đầu tư cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học tại Việt Nam, được thể chế hóa trong các nghị định của Chính phủ về hoạt động khoa học công nghệ trong cơ sở giáo dục đại học, gần đây nhất là Nghị định 125/NĐ-CP năm 2026.
![]() |
Mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu đã tạo môi trường học thuật thuận lợi để sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh tham gia trực tiếp vào các hoạt động khoa học, qua đó phát huy năng lực và nuôi dưỡng tài năng nghiên cứu. Đến nay, nhiều sinh viên năm cuối và 100% nghiên cứu sinh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên – công nghệ của ĐHQGHN đều có công bố quốc tế ISI. Không ít nghiên cứu sinh được đào tạo trong nước tại ĐHQGHN đạt thành tích công bố quốc tế nổi bật, thậm chí vượt trội so với một số nghiên cứu sinh đào tạo hoàn toàn ở nước ngoài.
Trong môi trường học thuật giàu truyền thống và được dẫn dắt bởi đội ngũ giáo sư, nhà khoa học đầu ngành tâm huyết, nhiều thế hệ sinh viên ĐHQGHN đã trưởng thành, khẳng định năng lực trong học tập, nghiên cứu cũng như trong thực tiễn. Nhiều cựu sinh viên của ĐHQGHN hiện là các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và lãnh đạo có uy tín trong nhiều lĩnh vực của đất nước. Hơn một thế kỷ qua, ĐHQGHN đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài cho quốc gia.
![]() |
Trong bối cảnh thế giới chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức với những bước tiến đột phá về trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch và chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra đối với ĐHQGHN không chỉ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn phải giữ vai trò tiên phong trong phát triển các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững của quốc gia.
Bước sang thế kỷ XXI, công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định vị thế và sức cạnh tranh của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, vai trò của các trường đại học, đặc biệt là những đại học nghiên cứu hàng đầu như ĐHQGHN, ngày càng trở nên quan trọng. Nếu doanh nghiệp tập trung phát triển sản phẩm và thị trường, thì các trường đại học và viện nghiên cứu chính là nơi kiến tạo tri thức nền tảng, phát triển công nghệ lõi và dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
![]() |
Các công nghệ lõi không thể được hình thành trong tư duy ngắn hạn hay dưới áp lực thương mại tức thời, mà đòi hỏi quá trình nghiên cứu lâu dài, tích lũy tri thức nền tảng cùng một môi trường học thuật tự do và sáng tạo. Với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đại học chính là nơi có khả năng phát triển bền vững các công nghệ nền tảng này. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, hàng không vũ trụ hay bán dẫn… đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học trước khi được chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp. Đây cũng chính là những lĩnh vực khoa học cơ bản gắn với công nghệ lõi và công nghệ chiến lược mà ĐHQGHN có nhiều thế mạnh nổi bật.
Từ định hướng đó, những năm gần đây, ĐHQGHN đã tiên phong mở nhiều chương trình đào tạo mới trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch, công nghệ bán dẫn, khoa học dữ liệu, công nghệ nano, kỹ thuật năng lượng, công nghệ hàng không vũ trụ, robot, an toàn thông tin, kỹ thuật hạ tầng, thiết kế công nghiệp và đồ họa… Qua đó, cơ cấu ngành nghề đào tạo của ĐHQGHN nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển của thế giới và đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia.
Gắn với việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW, từ năm 2025, ĐHQGHN tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình đại học nghiên cứu sang mô hình đại học nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, trong đó hoạt động đào tạo được gắn chặt hơn với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Sau hơn một thế kỷ xây dựng và phát triển, từ nền tảng đào tạo chủ yếu các ngành khoa học cơ bản, đến nay ĐHQGHN đã phát triển hệ thống 433 chương trình đào tạo ở cả ba bậc đại học, thạc sĩ và tiến sĩ với cơ cấu ngành nghề cân đối giữa khoa học tự nhiên, y dược, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế, luật, giáo dục, công nghệ – kỹ thuật cùng các ngành liên ngành và thí điểm. Sự chuyển dịch này thể hiện rõ định hướng phát triển từ khoa học cơ bản sang gắn kết chặt chẽ với kỹ thuật, công nghệ và các nhiệm vụ khoa học công nghệ chiến lược của đất nước.
Có thể khẳng định rằng, trong suốt hành trình 120 năm, hoạt động đào tạo của ĐHQGHN đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của chính nhà trường cũng như tiến trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam. Từ đào tạo tài năng, triển khai mô hình đào tạo tín chỉ, phát triển đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực đến xây dựng đại học nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; từ phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, đảm bảo chất lượng theo chuẩn quốc tế đến tiên phong đổi mới tuyển sinh, mở ngành đào tạo mới trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược – ĐHQGHN luôn giữ vai trò dẫn dắt và tiên phong của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Hơn một thế kỷ qua, ĐHQGHN đã có những đóng góp to lớn trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
![]() |
Nhìn lại hơn một thế kỷ xây dựng và phát triển, có thể khẳng định rằng những thành tựu của ĐHQGHN hôm nay được hun đúc từ trí tuệ, tâm huyết và sự cống hiến bền bỉ của nhiều thế hệ lãnh đạo, thầy và trò, các nhà khoa học, các GS, PGS, TSKH, TS cùng đội ngũ cán bộ, viên chức, giảng viên, nghiên cứu viên và những người làm công tác quản lý qua các thời kỳ. Đó không chỉ là niềm tự hào về một chặng đường lịch sử vẻ vang, mà còn là nền tảng để ĐHQGHN bước vào giai đoạn phát triển mới với nhận thức sâu sắc về thời cơ, vận hội cũng như những thách thức của thời đại.
![]() |
Sau 120 năm xây dựng và trưởng thành, trước yêu cầu phát triển của đất nước và bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ của giáo dục đại học toàn cầu, ĐHQGHN đang đứng trước yêu cầu tiếp tục đổi mới toàn diện để tạo ra những bứt phá mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Từ năm 2012, mô hình Đại học Quốc gia đã được ghi nhận bằng một điều khoản riêng trong Luật Giáo dục đại học. Thành tựu của ĐHQGHN hơn một thế kỷ qua cũng gắn liền với quá trình thực hiện tự chủ đại học, trước hết là tự chủ học thuật, sau đó là tự chủ trong nghiên cứu khoa học, tổ chức bộ máy và tài chính. Trong những năm gần đây, tự chủ đại học đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy nhiều đơn vị của ĐHQGHN đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản trị, mô hình hoạt động và chiến lược phát triển. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị và cơ chế tự chủ đại học trong bối cảnh mới sẽ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của các Đại học Quốc gia trong thời gian tới.
Giáo dục đại học hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng đào tạo, khả năng thích ứng nghề nghiệp của người học cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trước thực tiễn đó, ĐHQGHN đang triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm góp phần thúc đẩy đổi mới căn bản giáo dục đại học Việt Nam. Trong lĩnh vực đào tạo, ĐHQGHN tập trung mở rộng quy mô các chương trình tài năng, đầu tư đột phá cho đào tạo tiến sĩ, thu hút nhân tài, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, thúc đẩy công bố quốc tế, sáng chế và hoạt động đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường thực hành, thực tập và trải nghiệm thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo cũng như cơ hội việc làm cho sinh viên.
Bên cạnh công tác quy hoạch đội ngũ lãnh đạo, ĐHQGHN cũng đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận nhằm duy trì và nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ lâu dài, nâng cao vị thế và xếp hạng đại học, đồng thời phát huy sức mạnh liên thông, liên kết trong toàn hệ thống.
![]() |
Để tiếp tục giữ vững vai trò tiên phong và nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, ĐHQGHN cần tiếp tục đi đầu trong thí điểm các ngành đào tạo mới, mô hình đào tạo mới; ưu tiên nguồn lực cho đào tạo cử nhân, kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ chiến lược, đồng thời giữ vững nền tảng khoa học cơ bản – bởi khoa học cơ bản chính là nền móng để làm chủ các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược của quốc gia.
Cùng với đó, ĐHQGHN cần tiếp tục đầu tư phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh có năng lực cạnh tranh quốc tế, tập trung vào những lĩnh vực công nghệ chiến lược. Chương trình đào tạo cũng cần được đổi mới theo hướng giúp người học không chỉ có nền tảng STEM và khoa học cơ bản vững chắc mà còn được tiếp cận các công nghệ mới, tham gia trực tiếp vào giải quyết các nhiệm vụ khoa học công nghệ lớn của đất nước. Quá trình đào tạo và nghiên cứu cần gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học với các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học, đồng thời triển khai hiệu quả mô hình hợp tác “4 nhà”: Nhà nước – Nhà trường – Nhà khoa học – Doanh nghiệp.
ĐHQGHN cũng cần tiếp tục tiên phong trong cơ chế sử dụng, đãi ngộ và giao nhiệm vụ cho đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học; đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”.
![]() |
Trong giai đoạn tới, ĐHQGHN cần đẩy mạnh đào tạo đội ngũ công trình sư, tổng công trình sư cho đất nước; đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm hiện đại đạt trình độ khu vực và quốc tế phục vụ nghiên cứu các công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Đồng thời, Việt Nam cũng cần sớm hình thành các cơ chế thử nghiệm đặc biệt (sandbox) với tính linh hoạt cao, cho phép các trường đại học lớn như ĐHQGHN chủ động thử nghiệm công nghệ mới. Đây sẽ là điều kiện quan trọng để các nhà khoa học mạnh dạn tham gia nghiên cứu, phát triển các lĩnh vực công nghệ liên quan đến AI, UAV, camera AI, năng lượng mới, đô thị thông minh cũng như các công nghệ phục vụ an ninh, quốc phòng.
Bên cạnh đó, ĐHQGHN cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế với các trường đại học và chuyên gia hàng đầu thế giới, không chỉ để tiếp cận tri thức và công nghệ mới mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó phát huy hiệu quả nguồn lực tri thức phục vụ đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước.
Nhân dịp kỷ niệm 120 năm thành lập (1906–2026), tin tưởng rằng ĐHQGHN sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tiên phong và đổi mới, khẳng định vị thế là đại học hàng đầu, nòng cốt của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam; hội nhập ngày càng sâu rộng với giáo dục đại học thế giới và tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và toàn xã hội để phát huy tối đa nội lực, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực phát triển, từng bước hiện thực hóa khát vọng vươn tầm vào nhóm các đại học hàng đầu thế giới.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Nguyên Trưởng Ban Đào tạo ĐHQGHN, Nguyên Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN






















