VNU Logo
Thư viện sốVNU OfficeE-mailIT ServicesSitemap
  • Logo
  • Giới thiệu
    • Tổng quan
      • Lịch sử
      • Sứ mạng - Tầm nhìn
      • Chiến lược phát triển
      • Thi đua - Khen thưởng
      • Số liệu thống kê
      • Các cơ sở của ĐHQGHN
      • Website kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN
    • Cơ cấu tổ chức
      • Sơ đồ tổ chức
      • Ban Giám đốc
      • Đảng ủy
      • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
      • Văn phòng & ban chức năng
      • Công đoàn ĐHQGHN
      • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
      • Các trường đại học thành viên
      • Các trường thuộc
      • Các đơn vị nghiên cứu khoa học
      • Các trung tâm đào tạo môn chung
      • Các đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
      • Văn bản pháp quy
      • Thủ tục hành chính trực tuyến
    • Ba công khai
      • Chất lượng đào tạo
      • Cơ sở vật chất
      • Tài chính
      • Số liệu tổng hợp
    • Báo cáo thường niên ĐHQGHN
    • Ấn phẩm Giới thiệu ĐHQGHN
    • Video
    • Logo ĐHQGHN
    • Bài hát truyền thống
    • Tiến sĩ danh dự của ĐHQGHN
  • Đào tạo
    • Giới thiệu chung
    • Kế hoạch học tập và giảng dạy
    • Chương trình đào tạo bậc đại học
    • Chương trình đào tạo thạc sĩ
    • Chương trình đào tạo tiến sĩ
    • Chương trình đào tạo liên kết
    • Đào tạo hệ THCS và THPT
    • Số liệu thống kê
    • Mẫu văn bằng
    • Văn bản liên quan
  • Khoa học công nghệ
    • Giới thiệu chung
    • Hoạt động Khoa học - Công nghệ
    • Chiến lược KHCN&ĐMST 2021-2030
    • Chương trình, dự án, đề tài
      • Chương trình KHCN cấp Nhà nước
      • Đề tài cấp Nhà nước
      • Chương trình KHCN cấp ĐHQGHN
      • Đề tài cấp ĐHQGHN
      • Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
      • Nghiên cứu ứng dụng
    • Hệ thống phòng thí nghiệm
    • Nhóm nghiên cứu
    • Các hội đồng chuyên môn
    • Quỹ phát triển khoa học & công nghệ
      • Giới thiệu
      • Điều lệ, tổ chức hoạt động
    • Giải thưởng Khoa học - Công nghệ
      • Giải thưởng Hồ Chí Minh
      • Giải thưởng Nhà nước
      • Giải thưởng quốc tế
      • Giải thưởng ĐHQGHN
      • Giải thưởng khoa học sinh viên
      • Các giải thưởng khác
    • Các sản phẩm KHCN
      • Các ấn phẩm
      • Sở hữu trí tuệ
      • Các sản phẩm công nghệ, kỹ thuật
      • Bài báo khoa học
    • Chuyển giao tri thức & hỗ trợ khởi nghiệp
    • Văn bản liên quan
  • Hợp tác & phát triển
    • Giới thiệu chung
      • Lời giới thiệu
      • Đội ngũ
      • Bản tin hợp tác phát triển - PDF
    • Hợp tác quốc tế
      • Đối tác quốc tế
        • Châu Á
        • Châu Âu
        • Châu Đại dương
        • Châu Mỹ
      • Chương trình hợp tác
        • Trao đổi & học bổng
        • Hợp tác nghiên cứu
        • Hội nghị - Hội thảo
      • Mạng lưới hợp tác quốc tế
        • AUF
        • AUN
        • ASAIHL
        • BESETOHA
        • CONFRASIE
        • UMAP
        • SATU
      • Các thỏa thuận hợp tác quốc tế
    • Hợp tác trong nước
      • Các đối tác trong nước
      • Các dự án trong nước
        • Danh mục các nhiệm vụ KHCN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương
        • Trường ĐH Khoa học Tự nhiên
        • Trường ĐH Công nghệ
        • Trường ĐH Kinh tế
        • Viện Việt Nam học và KHPT
        • Viện Vi sinh vật và CNSH
    • Văn bản quản lý
      • Văn bản liên quan
      • Sổ tay Hợp tác quốc tế
  • Sinh viên
    • Giới thiệu chung
    • Học bổng
      • Trong nước
      • Ngoài nước
      • Quy định
      • Tin tức
      • Đăng ký học bổng
    • Hỗ trợ sinh viên
      • Đoàn - Hội
      • Đời sống
      • Các câu lạc bộ
      • Tư vấn, hỗ trợ việc làm
      • Vay vốn
      • Ký túc xá sinh viên
    • Chương trình trao đổi sinh viên
    • Cựu sinh viên
    • Văn bản - Biểu mẫu
  • Cán bộ
    • Giới thiệu chung
    • Số liệu thống kê
      • Theo đối tượng, vị trí việc làm
      • Theo chức danh khoa học và trình độ đào tạo
    • Danh hiệu nhà giáo
      • Nhà giáo Nhân dân
      • Nhà giáo Ưu tú
    • Đội ngũ GS, PGS
      • Các Giáo sư
      • Các Phó giáo sư
    • Tuyển dụng
      • Kênh thu hút nhà khoa học
      • Ứng tuyển & hợp tác
      • Vị trí tuyển dụng
      • Thông tin hữu ích
      • Liên hệ, đề xuất
    • Văn bản liên quan
  • Các đơn vị thành viên
    • Trường đại học thành viên
      • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
      • Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
      • Trường Đại học Ngoại ngữ
      • Trường Đại học Công nghệ
      • Trường Đại học Kinh tế
      • Trường Đại học Giáo dục
      • Trường Đại học Việt Nhật
      • Trường Đại học Y Dược
      • Trường Đại học Luật
    • Trường trực thuộc
      • Trường Quản trị và Kinh doanh
      • Trường Quốc tế
      • Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật
    • Viện nghiên cứu
      • Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
      • Viện Tài nguyên và Môi trường
      • Viện Công nghệ thông tin
      • Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
      • Viện Trần Nhân Tông
      • Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo
        • Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến
        • Viện Nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển bền vững
        • Viện Công nghệ Lượng tử
        • Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ trợ khởi nghiệp
        • Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực
        • Trung tâm hỗ trợ sinh viên
    • Trung tâm đào tạo trực thuộc
      • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
      • Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao
    • Đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Ban Quản lý dự án
      • Ban Quản lý Dự án World Bank
      • Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục
      • Trung tâm Quản lý đô thị đại học
      • Trung tâm Thư viện và Tri thức số
      • Tạp chí Khoa học
      • Viện Đào tạo số và Khảo thí
    • Đơn vị khác
      • Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á
      • Văn phòng Hợp tác ĐHQGHN - ĐH Arizona
      • Văn phòng các chương trình KH&CN trọng điểm ĐHQGHN
      • Quỹ Phát triển KH&CN
      • Quỹ Phát triển ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Cựu sinh viên
VNU Logo

Giấy phép số 993/GP-TTĐT ngày 20/3/2020 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Khu đô thị Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hòa Lạc, Hà Nội

 media@vnu.edu.vn

 

Thứ hai04-05-2026
|120 năm truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (1906-2016)Lịch sử hình thành và phát triển

Sự phát triển của đội ngũ cán bộ nữ Đại học Quốc gia Hà Nội qua các thời kỳ

Gần một nghìn năm dưới chế độ phong kiến, cả nước Việt Nam chỉ có duy nhất một nữ tiến sĩ. Đó là Bà Nguyễn Thị Duệ ở thế kỉ XVI. Bà đã phải đóng giả nam giới mới được dự kỳ thi tiến sĩ và chiếm bảng vàng. Gần một trăm năm dưới chế độ thực dân, cả nước cũng chỉ có một nữ tiến sĩ - Bà Hoàng Thị Nga, bảo vệ luận án Tiến sĩ Vật lý tại đại học Sooc-bon (Paris) năm 1935

Có thể nói, trong suốt một thời gian dài phụ nữ Việt Nam đã không có nhiều cơ hội tiếp cận giáo dục, nhất là giáo dục bậc cao. Chính vì vậy, ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công (1945), Đảng và Bác Hồ đã chú trọng đến vấn đề giải phóng phụ nữ và xây dựng một đội ngũ nữ trí thức có trình độ chuyên môn cao. Có thể coi đây là thời điểm đánh dấu sự hình thành đội ngũ các nữ trí thức của Việt Nam đầu tiên, trong đó có những nữ trí thức của ĐHQGHN.

Truyền thống của ĐHQGHN gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam là Trường Đại học Đông Dương (thời Pháp thuộc), trường Đại học Quốc gia Việt Nam (từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945), Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956 - 1996) và từ 1996 tới nay là Đại học Quốc gia Hà Nội (trong đó bao gồm cả trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội).

Sự phát triển lớn mạnh của ĐHQGHN ngày nay có công lao đóng góp rất lớn của đội ngũ cán bộ nữ, mà đại diện là các nữ Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ. Hiện nay, ĐHQGHN có khoảng 149 GS, PGS, TS nữ (bao gồm cả những chị đã nghỉ hưu) thuộc ĐH KHTN - 32,9%, ĐH KHXH&NV - 24,2%, ĐHNN - 20% và các đơn vị trực thuộc khác - 23,4%.

Trong 149 GS, PGS, TS nữ có 4 GS, 42 PGS, 4 TSKH, 142 TS, các chị đạt học hàm PGS phần nhiều thuộc trường ĐH KHTN - chiếm 52,4%; các chị PGS thuộc trường ĐH KHXH&NV chiếm 19%, các đơn vị trực thuộc (các phòng ban, các Trung tâm và các khoa trực thuộc, trong đó tính cả 1 chị thuộc trường Đại học Công nghệ) chiếm 16,7% và các chị PGS ở trường ĐHNN có tỷ lệ nhỏ nhất, chiếm 9,5%.

Các nữ Tiến sĩ của ĐHQGHN được đào tạo ở nước ngoài chiếm 45,8%, đào tạo trong nước chiếm 54,2%. Xem xét riêng theo từng trường, ĐH KHTN có 52% các nữ tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài. Trong khi đó, tỷ lệ nữ Tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài của ĐH KHXH&NV chỉ chiếm có 26,4%. Riêng ĐHNN, với đặc thù chuyên môn về ngôn ngữ nước ngoài nên tỷ lệ tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài chiếm tương đối lớn - 65%.

Sự trưởng thành của đội ngũ các GS, PGS, TS qua các thời kỳ sẽ là những minh chứng cho sự phát triển và vươn lên mạnh mẽ của đội ngũ cán bộ nữ ĐHQGHN.

Thế hệ đầu tiên của đội ngũ khoa học nữ ĐHQGHN sinh vào khoảng 1930 - 1940. Đó là những nữ GS, PGS, TS tốt nghiệp đại học trong giai đoạn 1950 - 1960. Có thể coi 6 nhà khoa học nữ tiêu biểu cho ĐHQGHN (ĐHTH Hà Nội cũ) thời kỳ này là PGS Văn học Đặng Thị Hạnh; Nhà giáo ưu tú Lê Hồng Sâm; GS.TS Ngôn ngữ Hoàng Thị Châu; PGS Sử học Phạm Thị Tâm; GS.TSKH Sinh học Phạm Thị Trân Châu và GS.TSKH Hóa học Ngô Thị Thuận.

Trưởng thành từ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, bằng nhiều nỗ lực và lòng kiên trì, thế hệ các nhà khoa học nữ đầu tiên của ĐHQGHN đã vươn lên mạnh mẽ, góp tên mình vào đội ngũ các nhà khoa nữ thế hệ đầu của nước Việt Nam độc lập và trở thành những chuyên gia khoa học đầu ngành trong chuyên môn với nhiều công trình khoa học có tiếng vang trong nước và quốc tế. Nhà giáo ưu tú Lê Hồng Sâm đã dịch và xuất bản hơn 16 tác phẩm nổi tiếng của văn học Pháp. PGS Đặng Thị Hạnh vừa viết phê bình, vừa dịch và cho xuất bản hơn 15 cuốn sách của văn học Pháp. Cả hai chị thường làm việc cùng nhau và có công phát triển văn học Pháp vào trường ĐHTH Hà Nội qua việc viết giáo trình, chủ biên sách, giới thiệu và dịch thuật những tác phẩm của tác gia Pháp nổi tiếng như bộ Tấn trò đời của O. Balzac. GS.TS Hoàng Thị Châu - một chuyên gia hàng đầu trong ngành phương ngữ học Việt Nam, chị đã có gần 60 công trình khoa học và đã cho xuất bản 7 cuốn sách (thuộc các lĩnh vực: giáo trình, chuyên luận, từ điển). PGS Phạm Thị Tâm - nữ phó giáo sư sử học đầu tiên của ĐHTH Hà Nội, chị đã cùng GS Hà Văn Tấn biên soạn cuốn sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII” được đánh giá rất cao trong giới sử học. GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu - nhà khoa học nữ có thành tựu ấn tượng với hơn 100 công trình khoa học và sách được xuất bản và đã nhận giải thưởng Kovalepxkaia năm 1988 về các nghiên cứu trong lĩnh vực Enzim. GS.TSKH Ngô Thị Thuận - một trong những người phụ nữ đầu tiên được nhận bằng TSKH, chị đã có hơn 100 công trình khoa học và sách nghiên cứu được xuất bản.

Hiện nay, thế hệ các nhà khoa học đầu tiên này đã quá tuổi nghỉ hưu, nhưng các chị vẫn hăng say nghiên cứu và hoạt động có hiểu quả trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Các chị đã biên soạn và xuất bản 65 đầu sách và giáo trình chuyên môn, đã đăng 299 bài báo trong các tạp chí chuyên ngành, sách tham khảo hoặc kỷ yếu hội thảo; chủ trì 31 đề tài các cấp và đã hướng dẫn được 16 thạc sĩ và 27 tiến sĩ. Tính trung bình mỗi nhà khoa học nữ ở thế hệ này đã tham gia biên soạn 10,8 đầu sách, 49,8 bài báo, chủ trì 5,2 đề tài các cấp, hướng dẫn được 2,7 thạc sĩ và 4,5 tiến sĩ. Có thể coi thế hệ I chính là những nhà khoa học hàng đầu đào tạo nên nhiều thế hệ các nhà khoa học không chỉ riêng ở ĐHQGHN mà cả các trường trên cả nước.

Thế hệ thứ hai của các đội ngũ khoa học nữ ĐHQGHN là những chị sinh ra sau những năm 1940, tốt nghiệp đại học ở trong nước (chiếm 32,9%) và ngoài nước (chiếm 61,1%) vào cuối những năm 1960 – 1970. Có đến 70% các chị bảo vệ luận án TS, TSKH ở nước ngoài, chủ yếu ở các nước XHCN như Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungari... vào những năm 1970-1980 và được phong học hàm PGS đợt 1991 hoặc 1996. So với thế hệ đầu, thế hệ thứ hai có số lượng về học hàm, học vị đông đảo hơn, chiếm khoảng 20% đội ngũ khoa học nữ toàn ĐHQGHN.

Nhìn chung, các nữ GS, PGS, TS thế hệ hai hầu hết tập trung ở lĩnh vực khoa học tự nhiên (bao gồm các chị thuộc trường ĐH KHTN hoặc các đơn vị trực thuộc ĐHQGHN) - có 22 chị, chiếm 70,9%. Trường ĐHNN có 7 chị, chiếm 22,6% và trường ĐH KHXH&NV chỉ có 2 chị, chiếm 6,5%.

Nói đến các nhà khoa học nữ tiêu biểu của thế hệ thứ hai, không thể không nhắc tới các chị, như: GS.TS Sinh học Nguyễn Thị Kim Ngân và PGS.TSKH Vật lý Kiều Thị Xin, mỗi chị có hơn 40 công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp, các bài báo và các sách đã công bố. PGS.TS Hóa học Lê Viết Kim Ba với 12 công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng, đạt giải thưởng Kovalepxkaia năm 1990 và giải thưởng sáng tạo Khoa học công nghệ năm 1999. PGS.TS Sinh học Nguyễn Thị Chính với hơn 40 công trình nghiên cứu khoa học, sách và giáo trình đã xuất bản và đạt giải thưởng sáng tạo Khoa học Công nghệ 2003. Trong lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn, PGS. TS Sử học Lê Thị Quý, giám đốc Trung tâm nghiên cứu giới và phát triển, thuộc trường ĐH KHXH&NV, với hơn 50 công trình nghiên cứu khoa học, sách và giáo trình đã xuất bản và có hơn 30 bài viết được in trong các sách tham khảo... Còn rất nhiều tên tuổi các nhà khoa học nữ tiêu biểu khác mà chúng tôi không thể liệt kê hết.

Những đóng góp của thế hệ hai trong nghiên cứu khoa học nói riêng và trong sự phát triển của ĐHQGHN nói chung là vô cùng to lớn. Các chị đã biên soạn và xuất bản 58 đầu sách và giáo trình chuyên môn; đã đăng 310 bài báo trong các tạp chí chuyên ngành, sách tham khảo hoặc kỷ yếu hội thảo; chủ trì 67 đề tài các cấp và đã hướng dẫn được 55 thạc sĩ và 28 tiến sĩ. Tính trung bình mỗi nhà khoa học nữ ở thế hệ này đã tham gia biên soạn 2,8 đầu sách, 14,8 bài báo, chủ trì 3,2 đề tài các cấp, hướng dẫn được 2,6 thạc sĩ và 1,3 tiến sĩ.

Thế hệ thứ ba là thế hệ các chị sinh từ 1951 - 1960, đa phần các chị tốt nghiệp đại học trong nước (chiếm tỷ lệ 72,1%) vào thời điểm những năm 1970 - 1980. Gần một nửa thế hệ thứ III được bảo vệ luận án Tiến sĩ trong những năm 1980 - 1990 tại nước ngoài (chiếm 40.1%). So với các thế hệ khác thì thế hệ các chị ít có cơ hội được bảo vệ Tiến sĩ tại nước ngoài nhất

Có một sự phát triển về số lượng các nữ PGS, TS các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở thế hệ thứ ba so với thế hệ thứ hai. Nếu như ở thế hệ thứ hai, các GS, PGS, TS chủ yếu thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên - chiếm 70,9%, thì ở thế hệ thứ ba, các chị thuộc lĩnh vực khoa học này chỉ chiếm tỷ lệ rất ít - 19,2%. Trong khi đó, các nữ PGS, TS thuộc lĩnh vực KHXH&NV chiếm số lượng đông nhất - 57,7%. Điều này phản ánh một sự phát triển không liên tục của đội ngũ nữ tiến sĩ ĐHQGHN, với sự hụt hẫng lớn trong đội ngũ cán bộ nữ có học hàm học vị cao ở lĩnh vực KHTN và sự vươn lên nhanh chóng để khẳng định vị thế của lĩnh vực KHXH&NV.

Đội ngũ các nữ PGS, TS thế hệ thứ ba của ĐHQGHN có 52 chị chiếm 41,7% toàn ĐHQGHN, trong đó có 23 PGS chiếm 54,8% số PGS toàn ĐHQGHN (42 chị). Đây là thế hệ đông đảo nhất trong đội ngũ các nhà khoa học nữ, và thế hệ này đang trong thời kỳ sung sức nhất về mặt nghiên cứu khoa học, làm quản lý cũng như kỹ năng giảng dạy. Có thể kể ra một vài gương mặt tiêu biểu của thế hệ này, như: PGS.TS Sử học Vũ Thị Phụng với 50 công trình khoa học (bao gồm các đề tài làm chủ trì, các bài báo, sách và giáo trình tham gia biên soạn), hiện chị là Phó chủ nhiệm khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng. PGS.TS Tâm lý học Trần Thị Minh Đức với 50 công trình khoa học, hiện chị là chủ nhiệm bộ môn Tâm lý học xã hội, khoa Tâm lý học và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ - ĐHQGHN. PGS.TS Tâm lý Nguyễn Thị Mỹ Lộc với 30 công trình khoa học, hiện nay chị là Chủ nhiệm khoa Sư Phạm - ĐHQGHN. PGS.TS Hóa học Trần Thị Như Mai với gần 30 công trình khoa học, hiện chị là Phó chủ nhiệm khoa Hóa, ĐH KHTN. PGS TS Ngôn ngữ Nguyễn Thị Việt Thanh với gần 30 công trình khoa học, hiện chị là trưởng ban CT&CT HSSV, ĐHQGHN. TS Khảo cổ học Lâm Thị Mỹ Dung với hơn 100 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành, hiện chị là Giám đốc Bảo tàng Nhân học thuộc trường ĐH KHXH&NV...

Có thể nói các nhà khoa học thuộc thế hệ thứ ba được đào tạo ở thế kỷ XX nhưng đang và sẽ đóng góp lớn cho sự phát triển khoa học của ĐHQGHN trong thế kỷ XXI. Cho đến nay các chị đã tham gia biên soạn 108 đầu sách và giáo trình chuyên môn, đã đăng 741 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành hoặc kỷ yếu hội thảo, chủ trì 127 đề tài các cấp, hướng dẫn được 158 thạc sĩ và 22 tiến sĩ. Tính trung bình mỗi nhà khoa học nữ ở thế hệ này đã tham gia biên soạn 2,45 đầu sách, 16,8 bài báo, chủ trì 2,9 đề tài các cấp, hướng dẫn 3,6 thạc sĩ và số tiến sĩ đã hướng dẫn là 0,5 người.

Thế hệ thứ tư là thế hệ của các nữ tiến sĩ trẻ, họ là những sinh viên tốt nghiệp đại học từ năm 1990 đến nay, chiếm 32,2% đội ngũ GS, PGS, TS nữ toàn ĐHQGHN (có 37 chị, trong đó có duy nhất 1 PGS, số còn lại là TS). Đây là thế hệ vẫn còn tiếp tục phát triển trong nhiều năm tiếp theo. Xét về tương quan giữa các ngành KHTN, KHXH&NV và Ngoại ngữ thì thế hệ này có sự phát triển đồng đều hơn. Rất nhiều chị được đào tạo ở các nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại như Mỹ, Nhật, Pháp, Úc, Thụy Điển, Anh... Những khó khăn về kinh tế, điều kiện sống và điều kiện làm việc của thế hệ những nhà khoa học nữ lớp trước đã không còn là nỗi lo hàng đầu đối với thế hệ này. Thách thức lớn nhất đối với thế hệ thứ tư của ĐHQGHN là đáp ứng trình độ khoa học của thế kỷ XXI và trở thành những chuyên gia khoa học trong lĩnh vực chuyên môn của mình để khẳng định vai trò kế cận đội ngũ các nhà khoa học nữ thế hệ trước.

Thế hệ I được đánh dấu bằng số lượng không nhiều số GS, PGS, TS nhưng các công trình khoa học mà các chị để lại đã rất đồ sộ, đặc biệt là các sách và giáo trình (xem phần thế hệ I). Trong khi đó, các nữ PGS.TS thuộc thế hệ thứ IV của ĐHQGHN, mặc dù tuổi đời còn trẻ, nhưng các chị cũng đã đạt được những thành tựu khoa học đáng kể (biểu đồ 7). Các chị đã tham gia biên soạn được 64 đầu sách và giáo trình chuyên môn, đăng 416 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành hoặc kỷ yếu hội thảo và chủ trì 22 đề tài các cấp, hướng dẫn được 72 thạc sĩ và 1 tiến sĩ. Tính trung bình mỗi nhà khoa học nữ ở thế hệ này đã tham gia biên soạn 2 đầu sách, đăng 13 bài báo, chủ trì 2,8 đề tài các cấp, hướng dẫn được 2,3 thạc sĩ và 0,2 tiến sĩ.

Độ tuổi trung bình đạt được học vị tiến sĩ của các nhà khoa học nữ toàn ĐHQGHN là tương đối cao - 38 tuổi, và được phong học hàm PGS là 50,7 tuổi. Xét trong từng thế hệ, độ tuổi trung bình đạt học vị và học hàm ở ĐHQGHN đang có xu hướng giảm

Xem xét thời điểm đăng các bài báo khoa học, số liệu cho thấy hơn 40% các chị có ít nhất 5 bài báo khoa học (có một số chị đã đăng trên 20 bài) trước khi bảo vệ luận án Tiến sĩ. Có 30% các GS, PGS,TS có ít nhất 20 bài báo khoa học, trong đó có người viết hơn 100 bài báo. Biểu đồ dưới đây mô tả số lượng trung bình các bài báo viết trước và sau khi đạt học vị Tiến sĩ của các thế hệ.

Bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, nhiều nhà khoa học nữ còn tham gia công tác quản lý, số lượng các chị đã và đang đảm nhiệm các vị trí quản lý ở cấp bộ môn và khoa chiếm 31,9% đội ngũ nữ PGS, TS của ĐHQGHN. Tuy nhiên, nếu xem xét trên toàn bộ đội ngũ cán bộ của ĐHQGHN thì các GS, PGS, TS nữ giữ chức vụ quản lý bộ môn, khoa chỉ chiếm xấp xỉ 2%. Mặt khác, số lượng các chị tham gia công tác quản lý, lãnh đạo đang có xu hướng giảm dần từ thế hệ 1 (50% các chị tham gia công tác quản lý) đến thế hệ 3 (giảm còn 21,2%) và bắt đầu có sự tăng lên trong thế hệ 4

Như vậy, những đóng góp của đội ngũ khoa học nữ đối với sự phát triển của ĐHQGHN nói riêng và toàn bộ đội ngũ cán bộ nữ ĐHQGHN nói chung rất lớn. Có thể tóm tắt những thành tựu khoa học của nữ GS,PGS,TS ĐHQGHN (thống kê trên 104 GS, PGS, TS có hồ sơ).

Với những đóng góp hết mình cho ĐHQGHN, các chị và các tập thể khoa học nữ đã xứng đáng được nhận nhiều giải thưởng, danh hiệu cao quý, trong đó có các giải thưởng như: giải thưởng Kovalepxcaia về khoa học và các giải thưởng khác của Nhà nước về Khoa học công nghệ, giải thưởng VIFOTEC...

Cuốn sách Nữ Tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội do Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ - ĐHQGHN chủ biên, giới thiệu cùng bạn đọc những gương mặt nữ GS, PGS, TS của ĐHQGHN đúng vào thời điểm kỷ niệm 100 năm Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm tổng kết những hoạt động khoa học của các nhà khoa học nữ (giai đoạn từ năm 1956 - khi bắt đầu hình thành trường ĐHTH Hà Nội), khẳng định sự trưởng thành và khuynh hướng phát triển tất yếu của đội ngũ khoa học nữ trong tương lai. Chúng tôi hy vọng cuốn sách này có thể cung cấp những thông tin vắn tắt về đội ngũ cán bộ nữ của ĐHQGHN trong thời gian qua, nhằm khích lệ đội ngũ nữ tiếp tục vươn lên đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp đào tạo, NCKH với chất lượng cao của ĐHQGHN có bề dày truyền thống.

Các Giáo sư:

Hoàng Thị Châu; Phạm Thị Trân Châu;

Nguyễn Thị Kim Ngân; Ngô Thị Thuận.

Các Phó Giáo sư:

Lê Viết Kim Ba; Nguyễn Thị Chính; Trần Thị Minh Đức; Trần Thị Thái Hà; Đặng Thị Hạnh; Nguyễn Thị Huệ; Lưu Lan Hương; Đào Thanh Lan; Ngô Giang Liên; Trần Thị Mỹ Linh; Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Trần Thị Như Mai; Trịnh Thị Hoa Mai; Nguyễn Phương Nga; Vũ Thị Ngân; Nguyễn Thị Bảo Ngọc; Triệu Thị Nguyệt; Nguyễn Thị Hoài Nhân; Ngụy Tuyết Nhung; Vũ Thị Phụng; Nguyễn Thị Quỳ; Lê Thị Quý; Nguyễn Thị Ngọc Quyên; Phạm Thị Tâm; Nguyễn Thị Minh Thái; Đỗ Thị Vân Thanh; Nguyễn Thị Việt Thanh; Lý Hoài Thu; Trương Thị Tiến; Phan Thị Tình; Nguyễn Thị Diễm Trang; Kiều Thị Xin;

Các Tiến sĩ:

Dương Hồng Anh; Nguyễn Hoàng Anh; Nguyễn Thị Quế Anh; Nguyễn Thị Vân Anh; Nguyễn Ngọc Bích; Lê Thị Thanh Bình; Đỗ Thị Châu; Lâm Thị Mỹ Dung; Ngô Thị Thu Dung; Nguyễn Thị Bích Đào; Trần Thị Đệ; Đỗ Thu Hà; Lê Thu Hà; Nguyễn Thị Hà; Nguyễn Thị Thu Hà; Lê Thị Tuyết Hạnh; Nguyễn Thị Hiền; Nguyễn Thị Kim Hoa; Nguyễn Thị Phương Hoa; Trần Thị Hồng; Đỗ Thị Hòa Hới; Đinh Thị Thu Huyền; Cao Thị Thanh Hương; Ngô Thu Hương; Nguyễn Thị Liên Hương; Nguyễn My Hương; Nguyễn Việt Hương; Tô Thị Thu Hương; Đặng Thị Lan; Trịnh Cẩm Lan; Võ Thị Thương Lan; Ngô Giang Liên; Trần Thị Mỹ Linh; Nguyễn Thị Loan; Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Nguyễn Thị Hồng Minh; Lê Thiếu Ngân; Nguyễn Thị Hồng Ngọc; Phan Bích Ngọc; Nguyễn Thị Nguyệt; Dương Thị Nụ; Đoàn Thị Minh Oanh; Phạm Thị Oanh; Nguyễn Thị Phương; Trần Thị Quý; Nguyễn Huỳnh Minh Quyên; Đặng Thị Sâm; Đặng Thị Sy; Chu Thị Thanh Tâm; Hà Cẩm Tâm; Nguyễn Thị Minh Tâm; Trần Thị Tâm; Mai Thị Kim Thanh; Phan Phương Thảo; Tạ Thị Thảo; Vũ Phương Thảo; Phạm Thị Thật; Hoàng Anh Thi; Đinh Thị Kim Thoa; Lê Thị Hoài Thu; Nguyễn Thị Hồng Thu; Lê Thị Thu Thủy; Trần Thị Thu Thủy; Nguyễn Thị Thư; Nguyễn Viết Triều Tiên; Trần Thị Chung Toàn; Phạm Thị Trâm; Mai Thị Thanh Xuân; Nguyễn Thị Linh Yên.

Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ, ĐHQGHN [100 Years-VietNam National University,HaNoi
avatar
send icon

Có thể bạn quan tâm

  • Mở đầu kỷ nguyên đại học dân tộc Việt Nam
  • Diễn đàn Quốc tế về giáo dục đại học trong thế kỷ XXI
  • Từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội - Sự kế thừa và phát triển của một mô hình đại học hiện đại
  • Về tính kế thừa của Đại học Quốc gia Hà Nội
  • Sự ra đời của Đại học Đông Dương qua tài liệu lưu trữ
  • Cống hiến nổi bật của ĐHQGHN về công tác đào tạo cán bộ khoa học
  • Trao đổi: Nhân chuyện 100 năm khởi nghiệp Đại học Quốc gia Hà Nội
Chia sẻ
Share on Facebook
Share on Zalo
Danh mục

Hội thảo "Từ đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội: Truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa"

Lịch sử hình thành và phát triển

Các nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu

Triển lãm nghệ thuật 120 năm - Dòng chảy tri thức

Báo chí với sự kiện