![]() |
| PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội |
Chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành "mạch sáng tạo"
Thưa ông, đâu là những điểm đột phá quan trọng nhất của Nghị quyết số 02-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Tinh thần xuyên suốt định hình mô hình phát triển mới cho Thủ đô trong giai đoạn tới được nhấn mạnh tại Nghị quyết này ra sao?
Nghị quyết số 02-NQ/TW đặt nền tảng của mọi sự phát triển trên cơ sở nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một Đảng bộ “thật sự tiêu biểu, mẫu mực” cả về bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng gắn với tinh thần “nêu gương, hành động, trách nhiệm”. Trên nền tảng tư tưởng đó, Nghị quyết thể hiện một triết lí mới về phát triển Thủ đô về vị thế, triết lí phát triển, đột phá không gian và đột phá thể chế: Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị - hành chính - văn hoá, mà còn là “trung tâm kiến tạo”, “dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới”. Không gian Thủ đô sẽ là một không gian đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm với sông Hồng là trục cảnh quan sinh thái. Thủ đô sẽ có một không gian thể chế đặc thù phục vụ phát triển. Đặc biệt, Thủ đô được xác lập một triết lí phát triển mới, lấy hạnh phúc của người dân là mục tiêu; lấy văn hoá là động lực trung tâm, xác định “Văn hiến - bản sắc - sáng tạo” là giá trị cốt lõi xuyên suốt, là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm để phát triển.
Trên nền tảng tư tưởng có tính đột phá đó, Nghị quyết đã xác lập cho Hà Nội một mô hình tăng trưởng mới mà theo đó, Hà Nội được đặt vào vai trò trung tâm dẫn dắt về tri thức, văn hóa và đổi mới sáng tạo của cả nước. Lần đầu tiên, yêu cầu phát triển Hà Nội được nhìn trong tổng thể một hệ sinh thái hiện đại, nơi kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ và chất lượng sống được gắn kết chặt chẽ, thay vì phát triển theo từng lĩnh vực riêng rẽ.
Tư tưởng xuyên suốt của Nghị quyết là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng không gian và khai thác nguồn lực vật chất sang mô hình phát triển dựa trên chất lượng, dựa trên nguồn lực con người, tri thức, di sản văn hóa và năng lực sáng tạo. Một điểm rất quan trọng khác là Nghị quyết gắn mục tiêu phát triển với yêu cầu hoàn thiện thể chế đặc thù cho Thủ đô, cho phép Hà Nội có cơ chế linh hoạt hơn trong quy hoạch, quản lý và thử nghiệm các mô hình mới.
Phải khẳng định rằng, tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 02-NQ/TW là hướng tới một Hà Nội phát triển dựa trên tri thức, văn hóa và sáng tạo, trong đó bản sắc lịch sử kết hợp với nguồn động lực đổi mới sáng tạo hiện tại được chuyển hóa thành nguồn lực cho tương lai.
Nghị quyết số 02-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hiến Thăng Long - Hà Nội, đồng thời gắn văn hóa với phát triển kinh tế và công nghiệp văn hóa. Theo ông, cách tiếp cận này mở ra cơ hội gì để Hà Nội chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển, nhất là trong bối cảnh xây dựng thành phố sáng tạo và trung tâm công nghiệp văn hóa của cả nước?
Cách nhìn về văn hiến Thăng Long - Hà Nội không chỉ ở việc bảo tồn, mà còn là phát huy như một nguồn lực phát triển. Đây là điểm rất mới trong Nghị quyết số 02-NQ/TW. Khi văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển Thủ đô, khẳng định “Văn hiến - bản sắc - sáng tạo” là giá trị cốt lõi xuyên suốt, thì di sản không còn chỉ là giá trị của quá khứ cần gìn giữ, mà nguồn tài nguyên văn hoá phong phú bậc nhất của Hà Nội cần trở thành chất liệu cho sáng tạo cho các ngành dịch vụ chất lượng cao, cho sự hình thành các ngành công nghiệp văn hóa. Ngược lại, sự phát triển của công nghiệp văn hóa sáng tạo chính là nền tảng để di sản văn hiến Thăng Long - Hà Nội được khẳng định và bảo vệ.
![]() |
| Trình diễn áo dài tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám góp phần tôn vinh di sản |
Ngoài ra, Hà Nội chúng ta đã tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo. Đây cũng là nơi có đời sống sáng tạo văn hoá nghệ thuật vừa sôi động, phong phú, vừa có tính tiên phong trong cả nước. Trong quá khứ cũng như trong hiện tại, Hà Nội là điểm khởi đầu và giữ vai trò định hình nhiều khuynh hướng phát triển quan trọng về văn hóa, nghệ thuật. Nguồn lực đó cần phải được chuyển hoá trở thành các “cực sáng tạo” và “mạch sáng tạo”, kết hợp văn hoá với công nghệ và tri thức, tạo nên một hệ sinh thái sáng tạo nơi di sản, nghệ thuật, thiết kế, công nghệ và kinh tế có thể tương tác với nhau.
Nghị quyết số 02-NQ/TW mở ra cơ hội rất rõ để Hà Nội chuyển từ tư duy giữ gìn sang tư duy kích hoạt di sản, biến văn hiến thành động lực cho sáng tạo, cho kinh tế và cho chất lượng sống của một đô thị hiện đại.
Cho phép Hà Nội thử nghiệm những mô hình mới
Cùng với Luật Thủ đô sửa đổi, Nghị quyết số 02-NQ/TW được kỳ vọng tạo ra những cơ chế vượt trội để Hà Nội phát triển nhanh và bền vững hơn. Theo ông, đâu là những yếu tố thể chế then chốt có thể tạo nên một “cú hích” thực sự, để Thủ đô không chỉ phát triển về kinh tế, mà còn trở thành một thành phố đáng sống, giàu bản sắc và có sức hấp dẫn sáng tạo?
Một trong những điểm mấu chốt của Nghị quyết số 02-NQ/TW là đặt vấn đề phát triển Thủ đô gắn chặt với yêu cầu đổi mới thể chế. Nếu trước đây, Hà Nội chủ yếu phát triển trong khuôn khổ chung, thì lần này Nghị quyết, cùng với Luật Thủ đô sửa đổi, mở ra khả năng áp dụng những cơ chế đặc thù, linh hoạt hơn trong quy hoạch, quản lý đô thị và tổ chức không gian phát triển, thực hiện phân cấp, phân quyền “triệt để và toàn diện”, kể cả quyền tự quyết tài chính; cho phép có các cơ chế thử nghiệm và bảo vệ sự sáng tạo; quản trị đô thị thông minh và hiện đại gắn với chuyển đổi số quyết liệt; có những cơ chế tài chính đặc thù từ đất đai. Đây là điều kiện then chốt để Hà Nội có thể đi trước trong việc thử nghiệm các mô hình mới, từ đô thị sáng tạo, kinh tế tri thức đến các ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ chất lượng cao.
Một thành phố đáng sống trong bối cảnh hiện nay không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay hạ tầng kỹ thuật, mà còn bằng sức sống đô thị, chất lượng không gian văn hóa, môi trường sống, cảnh quan và khả năng nuôi dưỡng sáng tạo. Nghị quyết số 02-NQ/TW thể hiện rõ cách tiếp cận này khi nhấn mạnh việc phát triển đô thị theo hướng đa trung tâm gắn với các trục cảnh quan - sinh thái - văn hóa, đồng thời chú trọng bảo tồn các không gian lịch sử, làng nghề, di sản và kết hợp với việc hình thành các khu sáng tạo, các không gian công cộng và các trung tâm văn hóa mới
Một khi thể chế được mở rộng, Hà Nội có điều kiện để tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng hài hòa hơn giữa bảo tồn và đổi mới, giữa truyền thống và hiện đại. Bên cạnh giúp nâng cao chất lượng sống, sẽ tạo ra sức hấp dẫn đối với cộng đồng sáng tạo, các ngành công nghiệp văn hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao. Có thể nói, “cú hích” thể chế mà Nghị quyết số 02-NQ/TW hướng tới, không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng, mà nhằm tạo nền tảng để Hà Nội trở thành một đô thị văn hóa, đô thị sáng tạo và đô thị đáng sống đúng nghĩa trong giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết số 02-NQ/TW đặt mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm tri thức, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao hàng đầu cả nước, với hệ sinh thái liên kết giữa đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền. Theo ông, các trường đại học tại Hà Nội cần đóng vai trò như thế nào trong mô hình liên kết này?
Nghị quyết số 02-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm tri thức và đổi mới sáng tạo của cả nước, gắn với việc hình thành hệ sinh thái liên kết giữa đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền, trong đó khu vực Hòa Lạc được xác định là một hạt nhân quan trọng. Điều này cho thấy các trường đại học bên cạnh công tác đào tạo sẽ phải tham gia trực tiếp vào quá trình kiến tạo tri thức, nghiên cứu chính sách, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy các lĩnh vực mới như công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo hay phát triển đô thị bền vững.
![]() |
| Sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) |
Theo tinh thần của Nghị quyết, các trường đại học tại Hà Nội cần đảm nhận ba vai trò chủ chốt: Hạt nhân của “cực sáng tạo” trong sự gắn kết với các khu công nghệ cao vào các cực phát triển; động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng thông qua cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao; cửa ngõ hội nhập tri thức và trung tâm nghiên cứu và thử nghiệm.
Tuy nhiên, để những điều này vận hành hiệu quả, một trong những điều còn thiếu hiện nay là các mô hình giáo dục liên ngành đủ mạnh, có khả năng kết nối giữa khoa học xã hội, nghệ thuật, công nghệ, quản trị và quy hoạch. Bên cạnh đó, cơ chế hợp tác giữa chính quyền, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp vẫn chưa thật sự linh hoạt và chưa có nhiều không gian thử nghiệm để các ý tưởng sáng tạo có thể được triển khai trong thực tiễn đô thị. Bởi vậy, mô hình phát triển dựa trên liên kết “ba nhà”, thậm chí “bốn nhà” với sự tham gia của cộng đồng thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, trong đó nhấn mạnh đại học giữ vai trò trung tâm tri thức mang tính chất kết nối, là một trong những hướng đi rất cần thiết. Để hiện thực hóa được những mục tiêu của Nghị quyết số 02-NQ/TW, sự phát triển của các trường đại học mang tính liên ngành, đa ngành, gắn với thực tiễn Thủ đô sẽ là một điều kiện then chốt, giúp kết nối tri thức, sáng tạo và quản trị trong cùng một chu trình phát triển.
Tôi tin rằng, với tinh thần của Nghị quyết số 02-NQ/TW, Hà Nội có đủ cơ sở để phát triển xứng tầm một Thủ đô “Văn hiến - văn minh - hiện đại - hạnh phúc”, lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể, đồng thời là mục tiêu cao nhất và động lực quyết định của mọi chiến lược phát triển.
Trân trọng cám ơn ông!


