Tại buổi làm việc, ĐHQGHN báo cáo kết quả triển khai các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và hợp tác với địa phương; đồng thời đóng góp ý kiến đối với những nội dung chính sách liên quan đến phát triển nhân lực, dữ liệu văn hóa số, bảo vệ bản sắc và khai thác nguồn lực nghiên cứu phục vụ công nghiệp văn hóa.
Đây cũng là dịp làm rõ vai trò của cơ sở giáo dục đại học và tổ chức nghiên cứu trong việc kết nối tri thức khoa học với nhu cầu phát triển thực tiễn, cung cấp luận cứ phục vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách.
![]() |
| Giám đốc ĐHQGHN Bùi Thế Duy phát biểu tại buổi làm việc |
Với cơ cấu đào tạo, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, ĐHQGHN có điều kiện kết nối những năng lực này trong một hệ sinh thái chung. Trong đó, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có thế mạnh về nghiên cứu văn hóa, lịch sử, di sản, báo chí, truyền thông, du lịch và các ngành khoa học xã hội; Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật tập trung phát triển các chương trình đào tạo kết hợp di sản, nghệ thuật, thiết kế sáng tạo, quản trị và công nghệ; Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển triển khai các nghiên cứu về tài nguyên văn hóa, không gian sáng tạo, làng nghề và những mô hình phát triển gắn với đặc thù địa phương.
Theo báo cáo của ĐHQGHN, năm 2026, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có 13 ngành đào tạo đại học trực tiếp liên quan đến công nghiệp văn hóa, với 1.275 chỉ tiêu tuyển sinh, chiếm 48,1% tổng chỉ tiêu của Trường. Các chương trình đào tạo đại học đã tích hợp nội dung về trí tuệ nhân tạo, đồng thời phát triển những hướng đào tạo mới về báo chí số, truyền thông đa phương tiện và nhân văn số.
![]() |
| Trưởng ban Khoa học & Đổi mới sáng tạo Trần Thị Thanh Tú trình bày báo cáo về việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa tại ĐHQGHN |
Tại Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, nhóm ngành đào tạo trực tiếp và hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa chiếm khoảng 90,3% tổng quy mô người học thống kê theo các khóa giai đoạn 2021–2026. Hoạt động đào tạo được tổ chức theo hướng kết hợp kiến thức chuyên môn với thực hành dự án, tiếp cận không gian di sản, doanh nghiệp và cộng đồng.
Những kết quả này cho thấy yêu cầu phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa không còn giới hạn trong các ngành nghệ thuật truyền thống mà ngày càng mở rộng sang lĩnh vực công nghệ, dữ liệu, thiết kế, quản trị thương hiệu và phát triển sản phẩm.
Bên cạnh đào tạo, ĐHQGHN xác định công nghiệp văn hóa và sáng tạo là một hướng nghiên cứu trọng điểm, gắn với yêu cầu phát triển của Thủ đô Hà Nội và các địa phương.
![]() |
| Chính phủ định hướng ưu tiên phát triển 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt |
Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp ĐHQGHN Nghiên cứu, chuyển giao các giải pháp và mô hình phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo ở Hà Nội và một số địa phương, mã số QGCT.25.01, giai đoạn 2025–2030, được phê duyệt theo Quyết định số 2556/QĐ-ĐHQGHN ngày 12/6/2024. Chương trình hướng tới nghiên cứu những vấn đề liên ngành về công nghiệp văn hóa, phát triển cơ sở dữ liệu và học liệu số, đề xuất các mô hình phát triển, chuyển giao kết quả nghiên cứu và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách.
Theo số liệu tổng hợp, ĐHQGHN triển khai 93 nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp có liên quan đến công nghiệp văn hóa. Hoạt động nghiên cứu, tư vấn và hợp tác với địa phương được thể hiện qua nhiều lĩnh vực, từ khảo cổ học, bảo tồn di sản, xây dựng hồ sơ khoa học đến nghiên cứu lịch sử, không gian sáng tạo và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa. Một số nhiệm vụ tiêu biểu gồm nghiên cứu phục vụ bảo tồn Khu đền tháp Mỹ Sơn; nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học liên quan đến di tích Cổ Loa và Hoàng thành Thăng Long; khảo cổ học và nghiên cứu di sản tại Ninh Bình; các đề tài về không gian văn hóa sáng tạo, phát triển du lịch làng nghề và ứng dụng công nghệ trong khai thác tài nguyên văn hóa.
Đặc biệt, hoạt động số hóa tư liệu, xây dựng dữ liệu di sản và phát triển các sản phẩm văn hóa số đang mở thêm khả năng kết nối giữa nghiên cứu khoa học với bảo tồn, giáo dục, du lịch và hoạt động sáng tạo.
Thông qua những hoạt động này, kết quả nghiên cứu của ĐHQGHN không chỉ phục vụ công bố khoa học mà còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản tại các địa phương.
![]() |
| Đề xuất Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế |
Trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa ngày 2/10/2026 và đối chiếu với hoạt động thực tế, ĐHQGHN cơ bản thống nhất với những định hướng và chính sách lớn của Dự thảo Luật, đồng thời kiến nghị làm rõ một số nội dung nhằm bảo đảm tính khả thi khi triển khai.
Một trong những vấn đề được quan tâm là cơ chế tiếp cận và khai thác dữ liệu văn hóa số. ĐHQGHN đề xuất quy định cụ thể về phương thức cung cấp, điều kiện tiếp cận, phạm vi sử dụng dữ liệu đối với các cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu và chủ thể sáng tạo.
![]() |
| GS.TS Phạm Hồng Tung, nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển ĐHQGHN đưa ra nhiều ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa |
Việc kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng học liệu số, nghiên cứu liên ngành, phát triển sản phẩm sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, quá trình này cần đồng thời bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân, ghi nhận nguồn gốc và quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan.
Đối với việc xác định bản sắc văn hóa Việt Nam trong sản phẩm công nghiệp văn hóa, ĐHQGHN kiến nghị xây dựng tiêu chí đánh giá có cơ sở khoa học, phù hợp với đặc thù từng loại hình sản phẩm. Việc bảo đảm tính xác thực khi khai thác di sản cần được phân biệt với hoạt động sáng tạo mới dựa trên chất liệu văn hóa truyền thống, tránh áp dụng máy móc những tiêu chí có thể hạn chế sự đa dạng và đổi mới sáng tạo.
Trong lĩnh vực phát triển nhân lực, ĐHQGHN đề nghị quan tâm cơ chế công nhận, huy động nghệ sĩ, nghệ nhân và chuyên gia thực hành tham gia đào tạo; đồng thời có cách tiếp cận phù hợp đối với những ngành nghề mới hình thành từ sự giao thoa giữa nghệ thuật, công nghệ, dữ liệu và quản trị.
![]() |
| Các kiến nghị cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm sự thống nhất, liên thông giữa chính sách công nghiệp văn hóa với pháp luật về giáo dục đại học, di sản văn hóa, khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ và dữ liệu |
Các kiến nghị cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm sự thống nhất, liên thông giữa chính sách công nghiệp văn hóa với pháp luật về giáo dục đại học, di sản văn hóa, khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ và dữ liệu.
Từ thực tiễn đào tạo, nghiên cứu và hợp tác với địa phương, ĐHQGHN cho thấy tiềm năng đóng góp của đại học nghiên cứu không chỉ ở việc phát triển nguồn nhân lực mà còn trong cung cấp bằng chứng khoa học, tham gia đánh giá chính sách và xây dựng những mô hình ứng dụng.
Việc kết nối nguồn lực tri thức, công nghệ và sáng tạo với yêu cầu hoàn thiện thể chế là cơ sở để ĐHQGHN tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, hướng tới khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc và tạo ra các giá trị mới cho phát triển kinh tế – xã hội.





