VNU Logo
Thư viện sốVNU OfficeE-mailIT ServicesSitemap
  • Logo
  • Giới thiệu
    • Tổng quan
      • Lịch sử
      • Sứ mạng - Tầm nhìn
      • Chiến lược phát triển
      • Thi đua - Khen thưởng
      • Số liệu thống kê
      • Các cơ sở của ĐHQGHN
      • Website kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN
    • Cơ cấu tổ chức
      • Sơ đồ tổ chức
      • Ban Giám đốc
      • Đảng ủy
      • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
      • Văn phòng & ban chức năng
      • Công đoàn ĐHQGHN
      • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
      • Các trường đại học thành viên
      • Các trường thuộc
      • Các đơn vị nghiên cứu khoa học
      • Các trung tâm đào tạo môn chung
      • Các đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
      • Văn bản pháp quy
      • Thủ tục hành chính trực tuyến
    • Ba công khai
      • Chất lượng đào tạo
      • Cơ sở vật chất
      • Tài chính
      • Số liệu tổng hợp
    • Báo cáo thường niên ĐHQGHN
    • Ấn phẩm Giới thiệu ĐHQGHN
    • Video
    • Logo ĐHQGHN
    • Bài hát truyền thống
    • Tiến sĩ danh dự của ĐHQGHN
  • Đào tạo
    • Giới thiệu chung
    • Kế hoạch học tập và giảng dạy
    • Chương trình đào tạo bậc đại học
    • Chương trình đào tạo thạc sĩ
    • Chương trình đào tạo tiến sĩ
    • Chương trình đào tạo liên kết
    • Đào tạo hệ THCS và THPT
    • Số liệu thống kê
    • Mẫu văn bằng
    • Văn bản liên quan
  • Khoa học công nghệ
    • Giới thiệu chung
    • Hoạt động Khoa học - Công nghệ
    • Chiến lược KHCN&ĐMST 2021-2030
    • Chương trình, dự án, đề tài
      • Chương trình KHCN cấp Nhà nước
      • Đề tài cấp Nhà nước
      • Chương trình KHCN cấp ĐHQGHN
      • Đề tài cấp ĐHQGHN
      • Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
      • Nghiên cứu ứng dụng
    • Hệ thống phòng thí nghiệm
    • Nhóm nghiên cứu
    • Các hội đồng chuyên môn
    • Quỹ phát triển khoa học & công nghệ
      • Giới thiệu
      • Điều lệ, tổ chức hoạt động
    • Giải thưởng Khoa học - Công nghệ
      • Giải thưởng Hồ Chí Minh
      • Giải thưởng Nhà nước
      • Giải thưởng quốc tế
      • Giải thưởng ĐHQGHN
      • Giải thưởng khoa học sinh viên
      • Các giải thưởng khác
    • Các sản phẩm KHCN
      • Các ấn phẩm
      • Sở hữu trí tuệ
      • Các sản phẩm công nghệ, kỹ thuật
      • Bài báo khoa học
    • Chuyển giao tri thức & hỗ trợ khởi nghiệp
    • Văn bản liên quan
  • Hợp tác & phát triển
    • Giới thiệu chung
      • Lời giới thiệu
      • Đội ngũ
      • Bản tin hợp tác phát triển - PDF
    • Hợp tác quốc tế
      • Đối tác quốc tế
        • Châu Á
        • Châu Âu
        • Châu Đại dương
        • Châu Mỹ
      • Chương trình hợp tác
        • Trao đổi & học bổng
        • Hợp tác nghiên cứu
        • Hội nghị - Hội thảo
      • Mạng lưới hợp tác quốc tế
        • AUF
        • AUN
        • ASAIHL
        • BESETOHA
        • CONFRASIE
        • UMAP
        • SATU
      • Các thỏa thuận hợp tác quốc tế
    • Hợp tác trong nước
      • Các đối tác trong nước
      • Các dự án trong nước
        • Danh mục các nhiệm vụ KHCN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương
        • Trường ĐH Khoa học Tự nhiên
        • Trường ĐH Công nghệ
        • Trường ĐH Kinh tế
        • Viện Việt Nam học và KHPT
        • Viện Vi sinh vật và CNSH
    • Văn bản quản lý
      • Văn bản liên quan
      • Sổ tay Hợp tác quốc tế
  • Sinh viên
    • Giới thiệu chung
    • Học bổng
      • Trong nước
      • Ngoài nước
      • Quy định
      • Tin tức
      • Đăng ký học bổng
    • Hỗ trợ sinh viên
      • Đoàn - Hội
      • Đời sống
      • Các câu lạc bộ
      • Tư vấn, hỗ trợ việc làm
      • Vay vốn
      • Ký túc xá sinh viên
    • Chương trình trao đổi sinh viên
    • Cựu sinh viên
    • Văn bản - Biểu mẫu
  • Cán bộ
    • Giới thiệu chung
    • Số liệu thống kê
      • Theo đối tượng, vị trí việc làm
      • Theo chức danh khoa học và trình độ đào tạo
    • Danh hiệu nhà giáo
      • Nhà giáo Nhân dân
      • Nhà giáo Ưu tú
    • Đội ngũ GS, PGS
      • Các Giáo sư
      • Các Phó giáo sư
    • Tuyển dụng
      • Kênh thu hút nhà khoa học
      • Ứng tuyển & hợp tác
      • Vị trí tuyển dụng
      • Thông tin hữu ích
      • Liên hệ, đề xuất
    • Văn bản liên quan
  • Các đơn vị thành viên
    • Trường đại học thành viên
      • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
      • Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
      • Trường Đại học Ngoại ngữ
      • Trường Đại học Công nghệ
      • Trường Đại học Kinh tế
      • Trường Đại học Giáo dục
      • Trường Đại học Việt Nhật
      • Trường Đại học Y Dược
      • Trường Đại học Luật
    • Trường trực thuộc
      • Trường Quản trị và Kinh doanh
      • Trường Quốc tế
      • Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật
    • Viện nghiên cứu
      • Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
      • Viện Tài nguyên và Môi trường
      • Viện Công nghệ thông tin
      • Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
      • Viện Trần Nhân Tông
      • Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo
        • Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến
        • Viện Nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển bền vững
        • Viện Công nghệ Lượng tử
        • Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ trợ khởi nghiệp
        • Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực
        • Trung tâm hỗ trợ sinh viên
    • Trung tâm đào tạo trực thuộc
      • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
      • Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao
    • Đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Ban Quản lý dự án
      • Ban Quản lý Dự án World Bank
      • Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục
      • Trung tâm Quản lý đô thị đại học
      • Trung tâm Thư viện và Tri thức số
      • Tạp chí Khoa học
      • Viện Quản lý chất lượng và Khảo thí
    • Đơn vị khác
      • Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á
      • Văn phòng Hợp tác ĐHQGHN - ĐH Arizona
      • Văn phòng các chương trình KH&CN trọng điểm ĐHQGHN
      • Quỹ Phát triển KH&CN
      • Quỹ Phát triển ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Cựu sinh viên
VNU Logo

Giấy phép số 993/GP-TTĐT ngày 20/3/2020 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Khu đô thị Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hòa Lạc, Hà Nội

 media@vnu.edu.vn

 

Thứ sáu09-10-2026
|Tin tức & Sự kiệnKhoa học và Công nghệ

PGS.TS Trần Quốc Bình: Ba đề xuất giải quyết các bài toán lớn của đất nước

Chuyển từ đặt hàng đề tài sang đặt hàng bài toán, đầu tư theo chuỗi giá trị tri thức và trao quyền chủ động cho các nhóm nghiên cứu mạnh là ba đề xuất của PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm phát huy vai trò của khoa học cơ bản trong giải quyết những vấn đề lớn của đất nước.

Ép nghiên cứu cơ bản luôn gắn với ứng dụng trước mắt có thể hạn chế đột phá tương lai

 PGS.TS Trần Quốc Bình - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

- Bộ Khoa học và Công nghệ vừa tổng kết Chương trình phát triển khoa học cơ bản giai đoạn 2017-2025 (Chương trình 562). Một trong những vấn đề đặt ra, là nghiên cứu cơ bản thường khó nhìn thấy hiệu quả ngay trước mắt. Từ thực tiễn triển khai, theo ông, làm thế nào để những nghiên cứu này thực sự góp phần giải quyết các bài toán thực tiễn, cấp thiết của Việt Nam?

Đúng là nghiên cứu cơ bản khó có thể cảm nhận ngay được hiệu quả. Có nhiều nghiên cứu hôm nay tạo ra nền tảng tri thức, dữ liệu hoặc phương pháp mà nhiều năm sau mới hình thành công nghệ.

Nhưng điều đó không có nghĩa là nghiên cứu cơ bản đứng ngoài thực tiễn. Kinh nghiệm từ Chương trình 562 cho thấy có thể tạo ra một cầu nối giữa tri thức cơ bản và nhu cầu thực tiễn ngay từ khi thiết kế nhiệm vụ.

Ví dụ, nghiên cứu về đặc điểm trầm tích Holocen không chỉ nhằm hiểu lịch sử địa chất, mà còn được sử dụng để tái lập các sự kiện bão, lũ cực đoan và xây dựng bản đồ dự báo ngập lụt, tổn thương ở Tam Giang - Cầu Hai và đầm Thị Nại. Tương tự, nghiên cứu cơ bản về cơ chế trượt đất được kết hợp với viễn thám, AI và cơ học đất không bão hòa để hình thành bộ công cụ cảnh báo sớm trước 48 giờ tại một số khu vực vùng núi.

Vì vậy, để những nghiên cứu cơ bản thực sự góp phần giải quyết các bài toán thực tế, cần đặt nghiên cứu cơ bản trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó nhà khoa học cơ bản làm việc cùng nhà khoa học ứng dụng, kỹ sư, cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Khi đó, tri thức cơ bản sẽ có nhiều cơ hội được chuyển hóa thành công nghệ, dữ liệu, công cụ và chính sách.

Tuy nhiên, không nên ép nghiên cứu cơ bản phải luôn gắn liền với nghiên cứu ứng dụng hiện tại. Vì như vậy có thể làm hạn chế khả năng đột phá cho tương lai, là mục tiêu mà nghiên cứu cơ bản hướng tới. Chúng ta nên duy trì 2 luồng nghiên cứu cơ bản: một luồng hướng tới các bài toán ứng dụng và một luồng hướng tới những vấn đề mở, chưa thể hình dung ra ứng dụng cụ thể. 2 luồng nghiên cứu này vừa tồn tại song song, vừa bổ trợ cho nhau.

Năm nhóm bài toán lớn cần nền tảng khoa học cơ bản và liên ngành

- Qua quá trình triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, theo ông, đâu là những bài toán lớn của đất nước cần sự tham gia của khoa học cơ bản và nghiên cứu liên ngành để giải quyết căn cơ?

Phần lớn những bài toán lớn của đất nước đều cần sự tham gia của khoa học cơ bản cùng với các nghiên cứu liên ngành. Chẳng hạn, với Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, có 5 nhóm bài toán mà Trường có thế mạnh để giải quyết.

Thứ nhất là biến đổi khí hậu và thiên tai. Đây là bài toán cần địa chất, địa mạo, khí tượng, thủy văn, sinh thái, viễn thám, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu cùng tham gia.

Thứ hai là an ninh tài nguyên và môi trường, bao gồm tài nguyên nước, đất, khoáng sản, chất lượng môi trường, xử lý chất thải và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Thứ ba là y sinh và sức khỏe cộng đồng. Ở đây cần sự kết nối giữa sinh học, y học, di truyền học, hóa học, khoa học vật liệu và công nghệ thông tin.

Thứ tư là đa dạng sinh học và hệ sinh thái, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế phải đi cùng bảo tồn vốn tự nhiên.

Thứ năm là năng lượng, vật liệu mới và công nghệ xanh, bởi đây là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.

Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã nhấn mạnh rằng những bài toán lớn của Việt Nam trong hiện tại và tương lai không chỉ cần công nghệ, mà còn cần một nền tảng tri thức liên ngành đủ sâu và đủ rộng.

Tại Chương trình 562, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên đã đóng góp 12 đề tài cấp quốc gia, giải quyết các bài toán lớn của đất nước trên nhiều lĩnh vực, từ vật liệu, y - sinh đến địa chất, khí hậu, sinh thái.

- Từ các kết quả đó, ông đánh giá thế nào về khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, công cụ phục vụ thực tiễn?

12 nhiệm vụ mà Nhà trường đã triển khai trong khuôn khổ Chương trình 562 cho thấy khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, công cụ phục vụ thực tiễn là hoàn toàn khả thi nếu nhiệm vụ được thiết kế đúng ngay từ đầu.

Ứng dụng cảnh báo sạt lở do Trường ĐH Khoa học Tự nhiên phát triển 

Bên cạnh các sản phẩm nghiên cứu cơ bản và đào tạo gồm 24 bài báo quốc tế, 29 bài báo trong nước, 23 thạc sĩ và 15 tiến sĩ, các nhiệm vụ đều đăng ký và đạt được các dòng sản phẩm định hướng ứng dụng rất đa dạng như: kit real-time PCR xác định nguy cơ dị ứng thuốc; vật liệu và thiết bị pilot xử lý hợp chất hữu cơ độc hại khó phân hủy; cơ sở dữ liệu mã vạch ADN của 200 loài côn trùng đặc hữu; WebGIS và các mô hình học máy về động thái, tích lũy carbon, bản đồ rủi ro tai biến, dự báo dòng chảy mùa cạn, cảnh báo trượt đất.

Như vậy, sản phẩm của nghiên cứu khoa học không nhất thiết chỉ là một thiết bị hay một sản phẩm thương mại. Nó có thể là một cơ sở dữ liệu, một mô hình dự báo, một thuật toán, một quy trình công nghệ, một bản đồ chuyên đề, một công cụ hỗ trợ ra quyết định hay một nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục phát triển thành sản phẩm.

Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy từ prototype là kết quả của đề tài đến sản phẩm được sử dụng rộng rãi vẫn còn một khoảng cách lớn. Đây là giai đoạn cần sự tham gia mạnh hơn của doanh nghiệp, cơ quan quản lý và nguồn vốn cho hoàn thiện công nghệ.

Cần chuyển mạnh từ tư duy đặt hàng đề tài sang đặt hàng bài toán

- Từ khoảng cách ông nói, theo ông đâu là những điểm nghẽn lớn nhất và cần tháo gỡ?

Từ kinh nghiệm thực tế, tôi thấy có hai khoảng cách lớn. Một là khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến công nghệ hoàn thiện. Nhà khoa học có thể tạo ra nguyên mẫu hoặc chứng minh được tính khả thi, nhưng để thành sản phẩm ổn định, sản xuất ở quy mô lớn, đáp ứng tiêu chuẩn và thị trường thì cần có nguồn lực và năng lực công nghệ rất lớn. Các nguồn lực và năng lực này được trông đợi từ doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp chỉ đầu tư, phân bổ chúng khi có một niềm tin về hiệu quả kinh tế và giá trị thực tiễn đo đếm được của kết quả khoa học.

Cùng với đó, là khoảng cách về thời gian và nguồn lực. Nghiên cứu cơ bản và những bài toán lớn về môi trường, khí hậu, địa chất hay sinh học thường cần các bộ dữ liệu dài hạn, thiết bị lớn và quá trình nghiên cứu nhiều năm. Nếu chỉ đầu tư theo chu kỳ ngắn thì rất khó tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh.

Vì vậy, theo tôi cần ưu tiên cơ chế hỗ trợ liên tục từ nghiên cứu → nguyên mẫu → thử nghiệm → hoàn thiện → chuyển giao, thay vì kết thúc hỗ trợ ngay khi đề tài được nghiệm thu. Chương trình 562 là một nỗ lực trong việc thúc đẩy cơ chế này và những kinh nghiệm có được từ chương trình cần được đúc kết để triển khai trong giai đoạn mới.

Các sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên được trưng bày tại Triển lãm công nghệ bán dẫn SEMIEXPO Vietnam 2025 

- Theo ông, Việt Nam cần thay đổi cách đặt hàng, đầu tư cho nghiên cứu khoa học ra sao để các nhà khoa học có thể tham gia sâu hơn vào giải quyết những bài toán lớn của đất nước?

Theo tôi, điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy đặt hàng đề tài sang đặt hàng bài toán. Tư duy này đang được hình thành trong quá trình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Để các nhà khoa học có thể tham gia sâu hơn vào giải quyết những bài toán lớn của đất nước, chúng tôi có ba đề xuất.

Thứ nhất, đặt hàng theo bài toán lớn và theo chương trình dài hạn. Căn cứ danh mục các công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược đã ban hành, Nhà nước cần xây dựng các chương trình nghiên cứu liên ngành 5-10 năm với đích đến là một hoặc một số sản phẩm chiến lược, trong đó có các nhiệm vụ thành phần với sự phân vai rõ ràng về khoa học.

Thứ hai, đầu tư theo chuỗi giá trị của tri thức. Không chỉ cấp tiền cho nghiên cứu ban đầu, mà phải có các gói kinh phí tiếp theo cho dữ liệu, thiết bị, nguyên mẫu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và chuyển giao.

Thứ ba, trao quyền chủ động lớn hơn cho các nhóm nghiên cứu mạnh. Kiến nghị giao các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia trọng điểm với kinh phí phù hợp và thời gian đủ dài, 3-5 năm, với các giai đoạn cụ thể cho các nhóm nghiên cứu mạnh; đồng thời có các gói đầu tư cho phòng thí nghiệm và hỗ trợ tiến sĩ trẻ, sau tiến sĩ.

Bên cạnh chỉ số truyền thống về công bố khoa học, các chương trình định hướng giải quyết bài toán quốc gia cần có các chỉ số đánh giá về tri thức mới, dữ liệu, công nghệ, bằng sáng chế, sản phẩm thử nghiệm, mức độ sử dụng của cơ quan quản lý/doanh nghiệp và tác động kinh tế - xã hội.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng mới của Việt Nam: Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh vừa đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, vừa chú trọng nghiên cứu cơ bản, hướng tới tự chủ và cạnh tranh công nghệ ở những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế.

Nếu chúng ta làm được như vậy, tri thức khoa học cơ bản sẽ trở thành nền tảng để Việt Nam giải quyết những bài toán lớn và từng bước làm chủ công nghệ.

Trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ!

Trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với nhiều rủi ro thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu, hiệu quả của các nghiên cứu về cảnh báo trượt đất, dự báo hạn hán, bão lũ là ví dụ cho thấy rất rõ giá trị thực tiễn của khoa học cơ bản thường nằm ở khả năng tạo ra hiểu biết sâu về quy luật tự nhiên, từ đó nâng cao năng lực dự báo và phòng ngừa.

Chẳng hạn, tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, nghiên cứu trượt lở đất của các nhà khoa học không chỉ lập bản đồ những nơi đã xảy ra trượt đất mà đi sâu vào cơ chế hình thành, đặc điểm động lực, ngưỡng mưa gây trượt đất, sau đó tích hợp viễn thám, trí tuệ nhân tạo và cơ học đất không bão hòa để xây dựng bộ công cụ cảnh báo sớm trước 48 giờ ở một số vùng nghiên cứu.

Với bão, lũ, việc nghiên cứu các dấu tích trong trầm tích Holocen cho phép chúng ta nhìn lại lịch sử thiên tai trong thời gian dài, từ đó hiểu được tần suất và mức độ của những sự kiện cực đoan mà chuỗi quan trắc hiện đại chưa đủ dài để phản ánh. Kết quả đã được phát triển thành các bản đồ dự báo ngập lụt cực trị và mức độ tổn thương.

Còn với hạn hán và nguồn nước, nghiên cứu của Trường đã xây dựng phương pháp và công nghệ dự báo dòng chảy mùa cạn với thời hạn 10 ngày, tháng và mùa đến biên giới Việt - Trung, đồng thời xây dựng WebGIS và các giải pháp giảm thiểu thiệt hại do thiếu hụt dòng chảy đối với sản xuất nông nghiệp và thủy điện.

“Việc dự báo nguy cơ thiên tai không chỉ hướng tới kết quả dự báo chính xác hơn, mà còn là việc chuyển kết quả dự báo thành hành động sớm hơn. Cụ thể là chính quyền biết khu vực nào có nguy cơ, người dân được cảnh báo, cơ sở hạ tầng được chủ động bảo vệ và các phương án ứng phó được kích hoạt trước khi thiên tai xảy ra”, PGS Bình cho hay.

>>> Nguồn: Tạp chí Tri thức & Cuộc sống

Mai Loan - Tạp chí Tri thức và Cuộc sống
avatar
send icon

Có thể bạn quan tâm

  • ĐHQGHN xây dựng Hòa Lạc thành không gian thử nghiệm và đổi mới sáng tạo cho kinh tế tầm thấp
  • Công nghệ FBHC thu hồi các chất dinh dưỡng từ nước thải chăn nuôi để tái sử dụng trong sản xuất nông nghiệp
  • [Longform] Từ bài giảng của nhà khoa học Nobel đến những câu hỏi của người trẻ
  • Vườn ươm ĐHQGHN tham gia Hội thảo APEC về nâng cao năng lực khởi nghiệp trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo
  • ĐHQGHN đăng cai AICAS 2026: Tăng cường kết nối quốc tế trong các lĩnh vực AI, vi mạch và bán dẫn
  • Smart Campus Air Shield: Sinh viên ĐHQGHN kết nối liên ngành vì không khí học đường
  • Hệ sinh thái phòng thí nghiệm dùng chung tại Hòa Lạc: Từ hạ tầng nghiên cứu đến nền tảng công nghệ chiến lược
Chia sẻ
Share on Facebook
Share on Zalo
Danh mục

Tin tức chung

Đột phá theo các nghị quyết Trung ương

Tuyển sinh

Đào tạo

▶

Hợp tác - Phát triển

▶

Khoa học và Công nghệ

▼

ĐHQGHN với sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế và CMCN 4.0

Media

▶

Tin các đơn vị

Công tác Đảng

Sinh viên

Con người VNU

Câu lạc bộ nhà khoa học

Tạp chí Khoa học

Sách và học liệu

VNU & báo chí

Xếp hạng đại học

Các hoạt động đoàn thể