Chuyển hóa vốn văn hóa thành động lực phát triển kinh tế sáng tạo
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Ngô Trang, Cao Hằng |
Hội thảo khoa học cấp quốc gia do Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phối hợp với Bộ Công an và Học viện Chính trị Công an nhân dân tổ chức, nhằm tham vấn ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp về phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
![]() |
| GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội . Ảnh: Ngô Trang, Cao Hoàng |
Tham gia hội thảo, GS.TS Hoàng Anh Tuấn trình bày tham luận “Chuyển hóa vốn văn hóa thành động lực kinh tế sáng tạo: Vai trò của giáo dục đại học trong mô hình liên kết giữa Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp”. Từ góc nhìn của giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn, tham luận nhấn mạnh yêu cầu đưa các giá trị lịch sử, văn hóa và xã hội từ tiềm năng trở thành nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị thiết thực cho phát triển đất nước.
Theo GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo như những động lực của phát triển bền vững. Vấn đề đặt ra không chỉ là bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa mà còn phải tìm ra phương thức khai thác, tái tạo và gia tăng giá trị của nguồn lực này trong đời sống đương đại.
Để giải quyết bài toán đó, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn đề xuất vận dụng mô hình Triple Helix (mô hình ba vòng xoắn), gắn kết ba chủ thể Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Trong mô hình này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, chính sách và hạ tầng phát triển; nhà trường đảm nhiệm đào tạo, nghiên cứu, phát triển tri thức liên ngành và bồi đắp vốn văn hóa; doanh nghiệp thúc đẩy ứng dụng công nghệ, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển sản phẩm văn hóa.
Sự tương tác giữa ba chủ thể tạo điều kiện hình thành chu trình liên kết từ nghiên cứu, phát triển tri thức đến ứng dụng và tạo lập giá trị kinh tế. Qua đó, các nguồn lực văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn có thể tiếp tục được tái tạo, lan tỏa và đóng góp vào sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa.
Ba nhóm giải pháp thúc đẩy kinh tế sáng tạo từ nguồn lực văn hóa
Từ khung lý thuyết và thực tiễn hoạt động của giáo dục đại học, GS.TS Hoàng Anh Tuấn đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát huy hiệu quả mô hình liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp.
Thứ nhất, Nhà nước và chính quyền địa phương cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường đặt hàng nghiên cứu.
Theo đó, cần nghiên cứu các cơ chế thử nghiệm phù hợp cho những dự án hợp tác công – tư trong lĩnh vực văn hóa, tạo điều kiện để trường đại học và doanh nghiệp phối hợp khai thác các không gian di sản, phát triển sản phẩm văn hóa và chia sẻ lợi ích minh bạch. Việc hình thành các không gian sáng tạo, vườn ươm và hạ tầng công nghệ phục vụ công nghiệp văn hóa cũng cần được quan tâm.
Một định hướng quan trọng khác là chuyển từ tư duy cấp ngân sách nghiên cứu dàn trải sang đặt hàng các nhiệm vụ trọng điểm. Các bộ, ngành và địa phương cần phát huy vai trò của những trường đại học, viện nghiên cứu có thế mạnh trong nghiên cứu văn hóa – xã hội, số hóa di sản và xây dựng các chỉ số đo lường văn hóa. Đây là cơ sở để bảo đảm tính khoa học, độ tin cậy và chiều sâu văn hóa của các sản phẩm công nghiệp sáng tạo.
Thứ hai, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động chuyển hóa tri thức hàn lâm thành giá trị phục vụ thực tiễn.
GS.TS Hoàng Anh Tuấn cho rằng đại học cần tham gia trực tiếp hơn vào việc giải quyết các bài toán phát triển của đất nước thông qua năng lực chuyên môn và nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh chức năng đào tạo, nghiên cứu, các trường cần phát huy vai trò cầu nối tri thức, phản biện chính sách và tư vấn chiến lược cho địa phương; đồng thời tham gia thiết kế các mô hình sinh kế dựa vào cộng đồng và di sản.
Các trường cũng cần tạo điều kiện để giảng viên, học viên và sinh viên triển khai những dự án phát triển nội dung giáo dục lịch sử, văn hóa trên nền tảng số, thiết kế không gian văn hóa sáng tạo và phát triển các sản phẩm có khả năng ứng dụng trong đời sống. Qua đó, năng lực nghiên cứu của đại học được chuyển hóa thành giá trị xã hội cụ thể, đồng thời mở rộng nguồn lực cho hoạt động khoa học và công nghệ.
Thứ ba, doanh nghiệp cần coi lịch sử và văn hóa là nguồn tài nguyên chiến lược trong phát triển sản phẩm sáng tạo.
Doanh nghiệp cần chủ động hợp tác với các nhà nghiên cứu, chuyên gia lịch sử và văn hóa ngay từ khâu hình thành ý tưởng, thiết kế và sản xuất các sản phẩm như phim ảnh, trò chơi điện tử, thời trang và chương trình biểu diễn thực cảnh. Sự tham gia của giới nghiên cứu sẽ góp phần bảo đảm tính chính xác về lịch sử, chiều sâu văn hóa và sức hấp dẫn của sản phẩm.
Cùng với đó, doanh nghiệp cần có trách nhiệm chia sẻ lợi ích với cộng đồng chủ thể di sản. Việc phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học để xây dựng mô hình kinh doanh bền vững, dành một phần lợi ích từ hoạt động công nghiệp văn hóa cho bảo tồn di sản và cải thiện sinh kế người dân sẽ góp phần hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với trách nhiệm xã hội.
Khẳng định vai trò của giáo dục đại học trong hệ sinh thái văn hóa sáng tạo
Những đề xuất của GS.TS Hoàng Anh Tuấn cho thấy giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong việc kết nối nghiên cứu khoa học với hoạch định chính sách, nhu cầu của doanh nghiệp và thực tiễn phát triển cộng đồng. Đặc biệt, các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có khả năng cung cấp nền tảng tri thức, tư liệu và phương pháp nghiên cứu chuyên sâu để các giá trị lịch sử, văn hóa được khai thác đúng hướng, có trách nhiệm và tạo ra giá trị lâu dài.
Đối với ĐHQGHN, việc phát huy thế mạnh liên ngành, tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đóng góp thiết thực cho phát triển đất nước.
![]() |
| Đoàn chủ tọa chủ trì và điều hành Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” |
Từ mô hình liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp, tham luận nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái trong đó chính sách tạo điều kiện, đại học cung cấp tri thức và doanh nghiệp phát triển các ứng dụng thực tiễn. Khi ba chủ thể phối hợp chặt chẽ, các giá trị văn hóa Việt Nam có thêm cơ hội được bảo tồn, lan tỏa và chuyển hóa thành động lực cho kinh tế sáng tạo, đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
>>> Nguồn: Đưa tiềm năng văn hóa trở thành động năng phát triển


