![]() |
| Bà Yagi Noriko trong lễ tốt nghiệp Thạc sĩ Khu vực học (định hướng Việt Nam học) |
Bà Yagi là một trong gần 40 học viên nhận bằng trong lễ tốt nghiệp của trường, ngày 18/7.
“Hai năm trôi qua thật nhanh. Tôi cảm giác mình chỉ mải hoàn thành hết việc này hết việc khác thì hành trình đã kết thúc”, bà chia sẻ. “Điều quý giá nhất đối với tôi không phải tấm bằng thạc sĩ, mà là những gì tôi đã học được và tích lũy trong thời gian qua”.
Đầu tháng 6, bà Yagi bảo vệ luận văn thạc sĩ nghiên cứu về trật tự và sự thừa nhận của xã hội đối với không gian bán hàng trên vỉa hè ở khu phố cổ Hà Nội, dựa trên gần 20 năm quan sát thực địa. Luận văn đạt kết quả cao và nhận đánh giá của hội đồng là “mang đến một góc nhìn mới và gây xúc động sâu sắc”.
![]() |
| Bà Yagi Noriko bảo vệ luận văn thạc sĩ, ngày 7/6. Ảnh: Trường Đại học Việt Nhật |
Bà Yagi Noriko có quê ở thành phố Tsushima, tỉnh Aichi, Nhật Bản - nơi bà mô tả cũng có một khu phố cổ, một hồ giống hồ Hoàn Kiếm và một cây cầu đỏ bắc qua hồ như cầu Thê Húc.
Sau khi tốt nghiệp đại học ở Nhật Bản, bà làm việc tại một công ty du lịch, phụ trách lên kế hoạch cho nhiều tour du lịch ở thị trường Đông Á và Đông Nam Á. Bà cũng phối hợp với các hãng hàng không và cơ quan truyền thông Nhật Bản để quảng bá hình ảnh Việt Nam, khi đây còn là một điểm đến khá mới đối với du khách Nhật. Giữa năm 2007, bà sang Việt Nam, sống tại Hà Nội từ đó đến nay.
Thời gian đầu, bà viết cho một tạp chí dành cho cộng đồng người Nhật sinh sống tại Việt Nam, rồi làm việc khoảng 15 năm trong lĩnh vực ODA của Nhật Bản, đồng thời hỗ trợ công tác truyền thông cho Trường Đại học Việt Nhật vào những ngày thành lập.
Trong nhiều năm sống tại Hà Nội, bà luôn quan sát những người bán hàng rong trên các tuyến phố ở khu phố cổ Hà Nội. Ban đầu, bà chỉ mong muốn viết về họ dưới dạng một bài viết mang tính tản văn để giới thiệu với độc giả Nhật Bản. Tuy nhiên, khi biết giáo sư Momoki Shiro, một học giả nổi tiếng về nghiên cứu Việt Nam, đến công tác tại Trường Đại học Việt Nhật, bà nhận ra rằng đây có thể trở thành một đề tài nghiên cứu, từ đó quyết định theo học chương trình thạc sĩ.
Theo bà Yagi, ý tưởng của đề tài nghiên cứu không chỉ xuất phát từ Việt Nam mà còn từ mối quan tâm lâu nay của bà đối với khu vực kinh tế phi chính thức. Bà cho rằng một xã hội hạnh phúc không chỉ được xây dựng bằng pháp luật và các thiết chế, mà còn cần những giá trị đời thường như sự sẻ chia, nhường nhịn và tinh thần cộng đồng. Xuất phát từ những vấn đề đó, bà lựa chọn những người bán hàng rong – những người thể hiện văn hóa bình dân trong đời sống đô thị – làm đối tượng nghiên cứu, qua đó tìm hiểu những khía cạnh của xã hội không thể chỉ được lý giải bằng pháp luật hay các thiết chế.
“Tôi rất khâm phục những người vẫn tiếp nối những giá trị truyền thống ấy”, bà Yagi bày tỏ.
Luận văn lý giải việc nghề bán hàng rong vẫn tồn tại trên vỉa hè khu phố cổ Hà Nội, dù chịu sự quản lý ngày càng chặt chẽ. Thay vì tiếp cận vấn đề dưới góc độ pháp lý, nghiên cứu đi sâu vào các chuẩn mực văn hóa và những logic vận hành trong đời sống thường nhật để giải thích sự tồn tại bền bỉ của hoạt động kinh doanh này.
Trong quá trình viết, bà Yagi cho biết khó khăn nhất là việc sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành mà trong giao tiếp hàng ngày hầu như không sử dụng. Ngoài ra, nhiều lý thuyết có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác khi dịch sang tiếng Việt không đồng nhất. Vì vậy, bà thường xuyên nhờ thầy cô, bạn bè kiểm tra và góp ý cách diễn đạt.
“Khi bắt đầu viết luận văn, tôi mới thực sự nhận ra rằng mình vẫn chưa hiểu đối tượng nghiên cứu nhiều như mình từng nghĩ. Viết trong một thời gian dài cũng có lúc khiến tôi mất tập trung hoặc rơi vào bế tắc. Tôi nhận ra rằng việc rèn luyện cách viết luận văn một cách logic đã giúp tôi vượt qua những giai đoạn khó khăn đó”, bà Yagi nói.
Về việc học tiếng Việt, bà Yagi cho rằng nếu không biết tiếng Việt, sẽ không thể thực sự hiểu Việt Nam, nên đã bắt đầu học từ khi vừa sang Việt Nam. Đến nay, bà nhìn nhận bản thân chỉ tạm ổn khi viết, còn nghe và nói vẫn khó, nhất là khi phỏng vấn người dân ở vùng nông thôn các tỉnh lân cận lên Hà Nội mưu sinh.
“Họ nói giọng địa phương khá nặng, nên có những cuộc phỏng vấn mà tôi gần như không thể hiểu được”, bà nhớ lại.
Nhìn lại quá trình học, điều bà Yagi nhớ nhất lại là những môn học ngoài chuyên ngành và cả những câu chuyện bên lề trong giờ học. Những khái niệm như “kinh tế đạo đức” hay “xã hội tiểu nông”, vốn chỉ được nhắc đến trong những câu chuyện ngoài nội dung chính của bài giảng, lại trở thành những gợi ý quan trọng cho phần phân tích lý thuyết trong luận văn của bà.
“Tôi chưa nhận ra ngay, nhưng sau này nhìn lại mới thấy chúng đã kết nối với nghiên cứu của mình. Tôi cho rằng chương trình đào tạo của VJU có tính hệ thống và phát huy rất tốt cách tiếp cận liên ngành”, bà chia sẻ.
Môi trường và tinh thần học tập của những người bạn cùng lớp cũng là điều khiến bà ấn tượng: “Các bạn đều rất chăm chỉ, xuất sắc và thân thiện nên tôi hầu như không cảm nhận được khoảng cách tuổi tác. Thêm nữa, trong khi người Nhật thường hoàn thành một việc rồi mới bắt đầu việc tiếp theo thì ở đây, việc lập gia đình, nuôi con hay học cao học cùng lúc là chuyện bình thường. Tôi thật sự khâm phục sức sống và nguồn năng lượng ấy”.
Còn từ góc nhìn của GS.TS Momoki Shiro, Đồng Giám đốc chương trình Thạc sĩ Khu vực học, bà Yagi là học trò luôn nhiệt tình với các lý thuyết, phân tích, quan điểm mới mẻ, cũng như trong các cuộc trao đổi về đời sống thủ đô.
“Sự đam mê khi nói về đời sống hàng ngày của người dân ở Hà Nội của cô ấy thật khác thường. Chính điều này cùng với việc nắm vững các lý thuyết khoa học đã kết hợp hài hòa trong phong cách nghiên cứu của cô Yagi. Tôi có thể tự hào nói rằng luận văn của cô Yagi nằm trong nhóm xuất sắc nhất trong lịch sử 10 năm đào tạo Việt Nam học của trường”, thầy Momoki cho hay.
![]() |
| Bà Yagi (áo đen) trong chuyến điền dã tại Hải Phòng (Hải Dương cũ), năm 2025. Ảnh: Nhân vật cung cấp |
Sau gần một phần ba cuộc đời gắn bó với Hà Nội, bà Yagi sẽ trở về Nhật Bản vào tháng 8. Ban đầu, bà nghĩ rằng tấm bằng thạc sĩ sẽ là dấu mốc khép lại chặng đường sống và làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, chính quá trình học tập và nghiên cứu lại mang đến cho bà những đề tài và mục tiêu nghiên cứu mới. Với lòng biết ơn đối với các thầy cô và những người đã hỗ trợ nghiên cứu, bà hy vọng công trình này sẽ có những đóng góp, dù nhỏ, cho sự phát triển của ngành Việt Nam học. Trong thời gian tới, bà hy vọng sẽ tiếp tục tham gia các hoạt động liên quan đến Việt Nam và thỉnh thoảng trở lại Hà Nội để không bỏ lỡ những thay đổi trong nhịp sống của “quê hương thứ hai”.


