Vì thế, khi tiến hành thúc đẩy con đường của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các nước phát triển đã thực hiện tách chiết và lựa chọn những vấn đề sở hữu trí tuệ là thế mạnh của họ để đưa vào thương thảo và (có vẻ như) các quốc gia này đang cố ý bỏ qua những vấn đề là lợi thế của các nước đang phát triển (ví dụ như nguồn gen, bảo vệ tri thức truyền thống,...).
Với cách tiếp cận này, các nước phát triển có thể tiếp tục dựa vào ưu thế của họ về kinh tế - thương mại để buộc các đối tác phải chấp nhận nhượng bộ nếu muốn được nhận lại những lợi ích thương mại khác. Nhờ đó, những yêu cầu, chuẩn mực cao hơn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ từ chỗ là các chuẩn mực quốc gia sẽ được nâng lên thành các quy tắc chuẩn mực của nhiều bên, mở rộng phạm vi ảnh hưởng của các chuẩn mực mới. Cách tiếp cận này dường như có lợi đối với các nước phát triển, nhưng cũng buộc những nước này phải chấp nhận trao đổi một số lợi ích để thu hút sự quan tâm của các nước kém phát triển hơn, chẳng hạn như về chuyển giao công nghệ hoặc nới rộng nguyên tắc cạn quyền.
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền hữu trí tuệ (TRIPS) được coi là chứa đựng những nghĩa vụ khó khăn nhất trong khuôn khổ WTO đối với các quốc gia đang phát triển. Việc thông qua Hiệp định đã dẫn tới sự gia tăng đáng kể các nghĩa vụ trong thương mại quốc tế bởi lý do WTO được phép kiểm soát tất cả các thỏa thuận về sở hữu trí tuệ của WIPO. Bên cạnh đó, việc thực thi cam kết trong các thỏa thuận này còn được bảo đảm bằng các biện pháp trừng phạt thương mại của WTO. Tuy nhiên, TRIPS chỉ quy định những chuẩn mực bảo hộ tối thiểu, đảm bảo cho các quốc gia thành viên sự tự do đáng kể trong việc lựa chọn cách thức thực hiện các nghĩa vụ của mình. Các thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới (TRIPS PLUS) đã hạn chế đáng kể quyền tự do này, tạo ra những áp lực mới cho các quốc gia đang phát triển. Ngoài ra, các quy định về thực vật, động vật và các quá trình mang bản chất sinh học vẫn đang tiếp tục được thảo luận và có thể được thay đổi. Trong hoàn cảnh đó, các quốc gia đang phát triển phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo cách phải mang lại lợi ích cho đông đảo công chúng, đạt được tiến bộ xã hội bằng cách bảo đảm cho người nghèo tiếp cận được với thuốc, chống lại xâm phạm bản quyền về sinh học cũng như bảo vệ được sở hữu cộng đồng đối với các tri thức và kỹ năng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trên cơ sở cách tiếp cận mới trong xây dựng các chuẩn mực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, một số vấn đề then chốt đã được đưa ra trong các FTA thế hệ mới như: tăng cường bảo hộ sáng chế (trong đó có hạn chế việc sử dụng lixăng cưỡng chế; mở rộng phạm vi hàng hóa, dịch vụ được cấp bằng sáng chế; kéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế, hạn chế các trường hợp hủy văn bằng bảo hộ sáng chế...); điều chỉnh mối quan hệ giữa sáng chế với việc đăng ký các sản phẩm dược; hạn chế nhập khẩu song song; tăng cường bảo hộ bí mật thương mại thông qua tính độc quyền của thị trường;...
Tăng cường bảo hộ sáng chế
Xu hướng này thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể như:
Thứ nhất, hạn chế các điều kiện và căn cứ cấp lixăng không tự nguyện. Lixăng không tự nguyện (còn gọi là lixăng cưỡng bức - Compulsory licensing) là việc nhà nước cho phép một người khác sản xuất sản phẩm hoặc áp dụng quy trình đã được cấp patent mà không cần sự đồng ý của chủ sáng chế. Đây là một trong những biện pháp linh hoạt trong bảo hộ sáng chế được quy định trong TRIPS. Trước đó, tại Điều 5A của Công ước Pari năm 1883 cũng đã có quy định về việc mỗi nước thành viên của Công ước có quyền cấp li xăng không tự nguyện nhằm ngăn chặn lạm dụng độc quyền sử dụng patent, ví dụ như không thực hiện việc sử dụng sáng chế. Tuy nhiên, tại đây cũng quy định những hạn chế cho việc cấp lixăng cưỡng bức nhằm chống lại việc lạm dụng trong việc cấp lixăng này, cụ thể là: 1. Không được cấp lixăng không tự nguyện với lý do không sử dụng không đầy đủ trước khi kết thúc thời hạn 4 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc 3 năm kể từ ngày cấp patent tuỳ thời hạn nào kết thúc muộn hơn; 2. Lixăng không tự nguyện sẽ bị rút bỏ nếu chủ patent chứng minh được việc không sử dụng là vì các lý do chính đáng; 3. Lixăng không tự nguyện chỉ là lixăng không độc quyền và không được chuyển giao kể cả lixăng thứ cấp trừ trường hợp chuyển giao cùng với cơ sở sản xuất hoặc thương mại[1]. Tại Điều 30 TRIPS cho phép các thành viên có thể quy định một số ngoại lệ đối với quyền được cấp nhưng không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường sáng chế và không làm tổn hại một cách bất hợp lý lợi ích hợp pháp của chủ sáng chế. Các quy định về cấp lixăng cưỡng chế này cũng cần tuân thủ những nguyên tắc chặt chẽ để chống lại sự lạm dụng hoặc làm tổn thất bất hợp lý đến lợi ích của chủ sáng chế và bên thứ 3 hoặc mâu thuẫn với việc khai thác bình thường các sáng chế đó, cụ thể là: 1. Trong trường hợp bình thường, cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu sử dụng sáng chế đã cố gắng đàm phán để được chủ sáng chế cấp lixăng tự nguyện với các điều kiện hợp lý nhưng không đạt được kết quả; và 2. Khi lixăng không tự nguyện được cấp thì chủ patent vẫn được trả tiền. TRIPS quy định “chủ patent phải được trả một khoản đền bù thỏa đáng cho từng trường hợp cụ thể phụ thuộc vào giá trị kinh tế của lixăng đó” nhưng lại không xác định “khoản đền bù thỏa đáng” và “giá trị kinh tế” là như thế nào; 3. Ngoài ra, lixăng không tự nguyện phải đáp ứng một số điều kiện bổ sung như lixăng này không phải là dạng độc quyền (nghĩa là chủ patent vẫn có quyền tiếp tục sản xuất sản phẩm) và lixăng vẫn có thể bị xem xét lại theo yêu cầu của chủ sở hữu[2]. Các điều kiện nêu trên của TRIPS thường được đánh giá là khá linh hoạt. Tuy nhiên, các thỏa thuận thương mại tự do TRIPS PLUS thể hiện một số quan điểm cứng rắn hơn so với những quy định có tính mềm dẻo, linh hoạt của TRIPS về vấn đề hạn chế cấp lixăng cưỡng chế. Các thỏa thuận này đã đưa ra những hạn chế hơn nữa đối với các điều kiện và căn cứ cấp loại lixăng này.
Thứ hai, mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế. Việc mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế chủ yếu thể hiện ở việc kéo dài thời gian bảo hộ sáng chế hơn so với trước đây, hạn chế các điều kiện hủy văn bằng bảo hộ đối với sáng chế cũng như chấp nhận bảo hộ sáng chế cho những đối tượng là sáng chế “dạng sử dụng”. Một số thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới xem xét khả năng kéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế hơn so với thời hạn bảo hộ tối đa 20 năm được quy định trong TRIPS. Mục đích của việc gia tăng thời hạn bảo hộ này là bù đắp cho những chậm trễ có thể xảy ra trong quá trình cấp văn bằng bảo hộ hoặc quá trình xem xét cấp giấy phép lưu hành sản phẩm. Các thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới cũng đưa ra các yêu cầu về việc các quốc gia thành viên phải giảm bớt các tiêu chí bảo hộ và mở rộng phạm vi bảo hộ đối với những lĩnh vực áp dụng mới hoặc phương pháp sử dụng mới của một sản phẩm đã được biết đến (hay còn gọi là sáng chế dạng sử dụng).
Điều chỉnh mối quan hệ giữa bảo hộ sáng chế và dược phẩm
Các thỏa thuận thương mại tự do đưa ra một số yêu cầu bổ sung liên quan đến điều chỉnh pháp lý liên quan đến quan hệ bảo hộ sáng chế và dược phẩm. Trong đó có: 1.Yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp phép lưu hành dược phẩm (các cơ quan này trong nhiều trường hợp thường không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực sáng chế) phải xem xét tình trạng patent của các dược phẩm trước khi cấp phép cho các nhà sản xuất, phân phối đối với những dược phẩm không được bảo hộ patent; 2. Yêu cầu bảo hộ các kết quả nghiên cứu, hạn chế việc sử dụng các kết quả thử nghiệm lâm sàng dược phẩm bởi các cơ quan quản lý thuốc với mục đích phê duyệt thuốc gốc trong một thời gian nhất định. Điều này ngăn cản các công ty sản xuất các loại thuốc không được bảo hộ dựa vào dữ liệu đó để chứng minh lợi ích và sự an toàn về sản phẩm của họ và do đó làm trì hoãn sự xuất hiện trên thị trường các sản phẩm thuốc tương ứng.
Hạn chế nhập khẩu song song
Nhập khẩu song song là việc nhập khẩu vào lãnh thổ của quốc gia có hàng hóa gốc chứa đựng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được đưa ra trên thị trường bởi chính chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc những người được chủ sở hữu cho phép, trong đó việc nhập khẩu này được thực hiện bởi những người không có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đối với việc nhập khẩu các loại hàng hóa nêu trên[3]. Thông thường việc nhập khẩu này được thực hiện song song với việc nhập khẩu bởi chính chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc những người được chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ cho phép (tức là không thông qua những nhà phân phối có quan hệ trực tiếp với chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ). Thậm chí chủ sở hữu quyền không biết đến sự tồn tại của những kênh nhập khẩu song song như thế này.
Những quy phạm của hệ thống pháp luật quốc gia cho phép chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ quyền ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hóa có thể được đánh giá từ hai khía cạnh: thứ nhất, đó là những biện pháp có ý nghĩa công bằng xuất phát từ chính ý tưởng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; thứ hai, những biện pháp đó cũng có thể được đánh giá như là những công cụ của sự phân biệt đối xử độc đoán và có khả năng ẩn chứa sự hạn chế giao lưu thương mại. Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn kinh nghiệm của các hệ thống pháp luật, nơi mà nguyên tắc “khai thác cạn quyền” (với một trong những nội dung chủ yếu là tình trạng nhập khẩu song song) đã được áp dụng từ rất lâu đời. Pháp luật EU là một trong những ví dụ điển hình của quá trình phát triển nguyên tắc nói trên. Bên cạnh đó, quan điểm của EU về vấn đề này cũng có những ảnh hưởng quan trọng trong quá trình đàm phán các liên minh kinh tế khu vực và quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Có thể nói, trong một thời gian rất dài tồn tại những mâu thuẫn nhất định giữa những quy định của EU về tự do lưu thông hàng hóa và quyền lợi của các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ. Thông thường quyền sở hữu trí tuệ được hình thành trên cơ sở những quy định của pháp luật quốc gia và những quy định đó mang tính chất lãnh thổ triệt để. Trong đó bao gồm cả quyền của chủ sở hữu ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hóa trong một số trường hợp, kể cả hàng hóa từ các nước khác thuộc EU. Những cấp độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khác nhau ở các nước thuộc EU có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình cạnh tranh lành mạnh và tự do lưu thông hàng hóa trong nội bộ EU. Các công ty, đặc biệt là những công ty thuộc các lĩnh vực sản xuất sản phẩm với trình độ công nghệ cao, có thể chỉ ưu tiên cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại các nước thuộc EU với những tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tương đối cao. Các quy định của Cộng đồng châu Âu (EC) ngăn cấm những hạn chế về số lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu[4]. Bên cạnh đó những quy định này không thể làm ảnh hưởng đến việc thiết lập những hạn chế về hàng hóa xuất, nhập khẩu hay quá cảnh với mục đích nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp nếu những hạn chế đó là công cụ của sự phân biệt đối xử một cách độc đoán hay ẩn chứa sự hạn chế giao lưu thương mại giữa các nước thành viên[5]. Như vậy, các quy định của EU được thiết lập theo hướng luôn bảo vệ độc quyền của các chủ sở hữu các đối tượng đối với việc sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Về mặt nguyên tắc, có thể xảy ra trường hợp như sau: một công ty sau khi đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại từng nước thành viên EU có thể sử dụng quyền ngăn cấm nhập khẩu hàng hóa được gắn nhãn hiệu đã đăng ký vào các nước đó. Điều này rõ ràng sẽ dẫn đến hạn chế lưu thông hàng hóa giữa các nước thuộc EU và có thể tạo ra nguy cơ phá vỡ khối thị trường chung thịnh vượng này. Để giải quyết những mâu thuẫn trên, Toà án Khối cộng đồng châu Âu trong quá trình xem xét hàng loạt vụ việc liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ đã hình thành nên học thuyết về “tình trạng đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ”. Việc áp dụng những nguyên lý của học thuyết này sẽ góp phần giải quyết triệt để những mâu thuẫn được đề cập trên. Trước hết, cần khẳng định: nguyên tắc “tình trạng đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ - exhaustion rights” là sự hiện thân của nguyên tắc không kỳ thị đối xử quốc gia được thể hiện trong các văn bản của EU. Sự kiện hàng hóa hay dịch vụ là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được đưa ra thị trường phải được xem xét trong những điều kiện đồng nhất và công bằng, không phụ thuộc vào việc hàng hóa hay dịch vụ đó xuất hiện lần đầu tiên tại thị trường của nước thành viên nào thuộc EU. Do vậy, một mặt, người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ không có quyền ngăn cấm việc lưu thông hàng hóa, dịch vụ tại một nước thành viên EC nếu như hàng hoá, dịch vụ đó đã được đưa ra thị trường của một nước thành viên khác thuộc EU bởi chính người nắm giữ quyền hoặc dưới sự đồng ý của người đó. Mặt khác, người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ tại nước nhập khẩu không thể viện lý do hàng hoá, dịch vụ đó được đưa ra thị trường lần đầu tiên không phải tại nước này mà ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ[6].
TRIPS đề cập cơ chế bảo hộ tất cả các đối tượng quyền tác sở hữu trí tuệ, trong đó đặc biệt chú trọng tới những thiết chế bảo vệ mà các nước thành viên WTO phải có nghĩa vụ dành cho người nắm giữ quyền đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ. Mặc dù phạm vi điều chỉnh của TRIPS là rất rộng, tuy nhiên vẫn còn một số khía cạnh quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ nằm ngoài khuôn khổ Hiệp định, trong đó có vấn đề: trạng thái đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ. Theo Điều 6 TRIPS: Nhằm mục đích giải quyết tranh chấp theo Hiệp định, phù hợp với các quy định về chế độ đãi ngộ quốc gia và chế độ đối xử tối huệ quốc, không được sử dụng một quy định nào của Hiệp định này để đề cập tới trạng thái đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ[7]. Như vậy, TRIPS thực chất đã từ chối việc đưa ra quan điểm chính thống đối với vấn đề “tình trạng đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ”. Điều đó cho phép các thành viên WTO có khả năng áp dụng nguyên tắc về “tình trạng đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ” theo cách giải thích của mình mà không phải e ngại những tranh chấp liên quan cũng như những buộc tội về hạn chế tự do thương mại. Sự thiếu vắng quan điểm đồng nhất được giải thích không chỉ bởi những đối kháng quyền lợi mang tính truyền thống giữa các nước phát triển và chậm phát triển mà còn bởi sự khác biệt trong cách nhìn nhận vấn đề giữa chính các nước phát triển[8]. Trong bối cảnh hiện nay, việc thống nhất và hài hòa hóa các quan hệ về nhập khẩu song song chỉ có thể được thực hiện trong khuôn khổ các khu vực tự do thương mại - nơi mà quan điểm cứng rắn của các quốc gia phát triển về nhập khẩu song song có sự ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ.
[1]. Xem Điều 5A Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Cong-uoc-Paris-bao-ho-so-huu-cong-nghiep-62697.aspx.
[2]. Xem Điều 30-31 Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Hiep-dinh-khia-canh-lien-quan-toi-thuong-mai-cua-Quyen-so-huu-tri-tue-1994-12722.aspx).
[3]. Xem Пирогова В.В. Исчерпание исключительных прав и параллельный импорт, М.: Статут, 2008, c. 155.
[4]. Xem Điều 30, Điều 34 Hiệp ước Rome thành lập EC, https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/HTML/?uri=CELEX:11992E/TXT& from=EN.
[5]. Xem Điều 36 Hiệp ước Rome thành lập EC,
[6]. Xem Nguyễn Thị Quế Anh: Tự do thương mại và nguyên tắc “cạn quyền” trong pháp luật về sở hữu trí tuệ của EU và một số nước”, Tạp chí Nghiên cứu hải quan, 1-2/2004, tr.29-32.
[7]. Xem https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Hiep-dinh-khia-canh-lien-quan-toi-thuong-mai-cua-Quyen-so-huu-tri-tue-1994-12722.aspx.
[8]. Xem Nguyễn Thị Quế Anh: Tự do thương mại và nguyên tắc “cạn quyền” trong pháp luật về sở hữu trí tuệ của EU và một số nước, Tlđd, tr.29-32.