Trong thế giới hiện đại ngày nay, việc chống lại các hành vi sử dụng trái phép các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên khó khăn hơn với chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Các công nghệ như peer-to-peer (chia sẻ ngang hàng) hay bit-torent (giao thức dùng để chia sẻ các tệp ngang hàng) không chỉ làm giảm đáng kể thu nhập của các chủ sở hữu quyền (các nhà sản xuất bản ghi âm, các nhà làm phim,...) mà thậm chí còn đặt ra vấn đề đối với chính sự tồn tại của các chủ thể này[1].
Nhờ có công sức lao động sáng tạo của tác giả thì mới xuất hiện các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (trừ các đối tượng là chỉ dẫn thương mại, các bản ghi âm, ghi hình hay chương trình phát sóng). Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại, tác giả - người mà quyền lợi được bảo vệ bởi các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ - không còn là nhân vật đóng vai trò chủ chốt. Vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển pháp luật về sở hữu trí tuệ sự khác biệt giữa lợi ích của chủ sở hữu và tác giả là không rõ ràng. Tính thanh khoản của các đối tượng sở hữu trí tuệ sẽ không thể thực hiện được nếu như không có những khoản đầu tư đáng kể cũng như việc tổ chức hoạt động sáng tạo từ phía chủ sở hữu quyền. Hệ quả là tác giả dần bị xa rời cả hoạt động sử dụng các sản phẩm sáng tạo cũng như cả quá trình sáng tạo.
Phía người sử dụng bao gồm tất cả các chủ thể vì các mục đích cá nhân hoặc thương mại sử dụng, tiêu dùng hay ứng dụng các thành quả của lao động sáng tạo và thành tựu khoa học kỹ thuật và những gì có thể coi là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong bất cứ lĩnh vực nào như khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, v.v.. Điều 2 của Tuyên bố chung về sở hữu trí tuệ ngày 26/6/2000 của WIPO đã đưa định nghĩa về người tiêu dùng tương tự như vậy[2]. Với định nghĩa này, có thể thấy, tất cả mọi người, bằng cách này hay cách khác đều là những người sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Thế giới hiện đại ngày nay được sắp xếp theo cách thức mà bất cứ người nào cũng có thể đã nhiều lần sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Người sử dụng có thể đóng vai trò là chủ thể quyền. Tuy nhiên, không phải người dùng nào cũng là chủ thể quyền. Chỉ có những người sử dụng chưa được chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ thì mới thuộc nhóm này (nhóm người sử dụng không phải là chủ thể quyền). Họ có thể sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo các căn cứ do pháp luật quy định về sử dụng tự do, sử dụng không phải xin phép hoặc sử dụng một cách trái pháp luật. Quyền sở hữu trí tuệ thiết lập sự cân bằng lợi ích chặt chẽ giữa người sử dụng và các chủ thể quyền bằng cách tuân thủ độc quyền khai thác, sử dụng đối tượng của chủ thể quyền trong một khoảng thời gian nhất định cũng như quyền của các chủ thể khác (người sử dụng) đối với một số dạng hành vi sử dụng đối tượng (sử dụng tự do) do pháp luật quy định trong thời gian bảo hộ[3]. Mâu thuẫn toàn cầu của thời đại ngày nay là phạm vi những người sử dụng trái phép rất rộng lớn và họ ngày càng tuyên bố mạnh mẽ hơn về những lợi ích đặc biệt của họ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Bất cứ một thiết bị điện tử đơn giản nào (máy tính bảng, điện thoại di động, v.v.) cũng đều liên quan tới việc sử dụng thường xuyên chương trình máy tính, tác phẩm cũng như các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác. Hành vi xâm phạm của chủ sở hữu các thiết bị này thường xảy ra một cách vô thức. Hơn nữa, thực tiễn này đã trở nên phổ biến tới mức việc hạn chế khả năng tải xuống miễn phí các bản nhạc chuông, nhạc chờ, sách, phim, v.v. (chính là toàn bộ hoặc một phần các tác phẩm âm nhạc, văn học, tác phẩm nghe nhìn, v.v.) có thể bị coi là vi phạm quyền tự do thông tin, tiếp cận, trao đổi thông tin[4]. Trong bối cảnh hiện nay, người sử dụng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của quyền sở hữu trí tuệ. Vị trí của người sử dụng cần được coi trọng, tuy nhiên, cần phải xem xét nó dưới nguyên tắc cân bằng lợi ích. Theo quan điểm yêu cầu của người tiêu dùng phải tương thích lợi ích của các bên liên quan (còn gọi là stakeholders) và phải được ghi nhận trong pháp luật hiện hành. Người sử dụng, trước tiên là đại diện cho cộng đồng mạng nên từ bỏ các tuyên bố về bãi bỏ quyền sở hữu trí tuệ nói chung mà nên chú trọng tới bản quyền và các quy tắc bảo vệ đối tượng sở hữu trí tuệ, trong đó cần tập trung vào các đặc điểm sử dụng trong môi trường kỹ thuật số cũng như bản chất thông tin đặc biệt của một số loại hình tác phẩm như chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu[5]. Iternet là một trở ngại lớn đối với sự phát triển của quyền sở hữu trí tuệ theo hướng thiết lập các chuẩn mực bảo hộ cao hơn và bảo vệ nghiêm ngặt hơn. Nền kinh tế trên cơ sở chia sẻ thông tin xuyên biên giới trong không gian ảo có xuất phát điểm dựa trên nền tảng sử dụng miễn phí tối đa các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Do vậy, vị thế của người tiêu dùng, mặc dù có thể thấp hơn các chủ thể quyền nhưng vẫn được xác định trên cơ sở các tiêu chí mang tính chất tài chính. Có quan điểm cho rằng, trong bối cảnh phát triển hiện nay của quyền sở hữu trí tuệ, để giải quyết vấn đề cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và người sử dụng, cần thiết phải xem xét, đánh giá lại việc thiết lập bản thân cơ chế bảo hộ. Việc độc quyền cấp cho một người/nhóm người nhằm ngăn cản việc sử dụng tự do bởi những người khác cần phải có những luận lý nghiêm túc. Trên thực tế hiện nay, dung lượng kiến thức xã hội ngày càng gia tăng, do vậy, cần mở rộng phạm vi các yếu tố không được bảo hộ trong mọi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ: tác phẩm, sáng chế, nhãn hiệu, v.v.. Phải thừa nhận rằng, dưới góc độ kỹ thuật thì thế giới hiện đại không thể tồn tại mà thiếu sự tham khảo, vay mượn từ sáng tạo của người khác. Do vậy, dưới góc độ pháp lý, phải chấp nhận một số trường hợp không bảo hộ hoặc cho phép sử dụng tự do đối với các đối tượng được bảo hộ[6].
Vụ việc Google với phán quyết về vụ kiện giữa Google LLC và Oracle American, Inc liên quan đến cấu trúc chương trình Java API của Oracle có thể được xem là minh họa rõ nét về mối quan hệ giữa các trao đổi thông tin và công nghệ. Android thuộc sở hữu của Google LLC đã sử dụng Giao diện lập trình ứng dụng (API) của Java để xây dựng Hệ điều hành Android cho thiết bị di động từ năm 2005. Java thuộc sở hữu của Sun Microsystems sau đó được Oracle mua lại vào năm 2009. Vào năm 2005, Google đã bất lực trong việc xin phép quyền sử dụng với mục đích sửa đổi nền tảng dựa trên ngôn ngữ lập trình Java và các công nghệ đi kèm dành cho các thiết bị di động. Khi đó Google quyết định tạo ra phần mềm riêng của mình và đã sao chép độc lập tất cả các chức năng cần thiết của các ứng dụng Java API. Tỷ trọng vay mượn của Google đã dẫn đến việc sử dụng các mô tả (tiêu đề) của Java API. Ngoài ra, Google có sử dụng mã chương trình riêng của mình. Oracle lần đầu tiên đệ đơn kiện vi phạm bản quyền vào năm 2010 nói rằng Google đã vi phạm bản quyền của API và 11.500 dòng mã. Trong phiên tòa xét xử đầu tiên, thẩm phán đã ra phán quyết có lợi cho Oracle khi nói rằng Google đã vi phạm bản quyền của Oracle liên quan đến hàm kiểm tra phạm vi chín dòng, SSO (cấu trúc, trình tự và tổ chức) của API và dòng mã. Các bên sau đó đã kháng cáo Bản phúc thẩm thứ nhất khẳng định phán quyết của Tòa án quận và đã gửi lại vụ việc cho Tòa án quận để có phán quyết khác về “sử dụng hợp lý” API và dòng mã. Vào tháng 5/2012, Tòa án quận Bắc California cho rằng Google không sao chép trực tiếp các giao diện của Java API mà chỉ tập trung vào các chức năng của chương trình. Kết quả điều tra cho thấy, 97% dòng mã do Google viết ra khác biệt với các dòng tương ứng của mã Oracle, sự trùng lặp chỉ chiếm 3%. Lập luận của Oracle cho rằng hành vi xâm phạm thể hiện ở sao chép cấu trúc, trình tự và tổ chức mã chính của 37 ứng dụng của Java API đã không được Tòa án chấp nhận[7]. Không hài lòng với phán quyết này, Oracle đã kháng cáo phán quyết này tại Tòa án mạch liên bang, nơi đã ra phán quyết có lợi cho Oracle rằng Google đã sao chép các API, việc sử dụng của Google không đáp ứng bất kỳ tiêu chí nào trong các yếu tố về sử dụng hợp pháp và cho rằng Android đang sử dụng API cho mục đích thương mại. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ có một bản tóm tắt amicus để biết lập trường của họ về vụ việc. Bản tóm tắt của Chính phủ ủng hộ lập trường của Oracle trong khi một số “gã khổng lồ” công nghệ hàng đầu như Microsoft, Mozilla, IBM, v.v., Google nói rằng một quyết định có lợi cho Oracle sẽ làm tổn hại đến thế giới điện toán nói chung. Cuối cùng, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã đứng về phía Google trong một quyết định quan trọng mà một số chuyên gia pháp lý ca ngợi là một chiến thắng cho các lập trình viên và người tiêu dùng. Tòa án đã phán quyết rằng Google không vi phạm luật bản quyền khi đưa các phần của mã lập trình Java của Oracle vào hệ điều hành Android của mình - chấm dứt cuộc chiến pháp lý trị giá hàng tỷ USD kéo dài một thập niên qua[8].
Trong trường hợp này một nguyên tắc có lợi cho bị đơn đã được áp dụng - đó chính là nguyên tắc không thể xác lập độc quyền đối với phương thức thể hiện duy nhất có thể sử dụng. Trong phán quyết của Tòa án đã nêu rõ những lập luận về ranh giới giữa “sử dụng hợp lý” và chế độ bảo hộ đối với chương trình máy tính, từ đó người sử dụng có thể định hướng cho mình trong việc tạo ra các chương trình tương thích. Trong đó, cần nhấn mạnh rằng học thuyết “sử dụng hợp lý” được áp dụng hết sức linh hoạt, đặc biệt là đối với chương trình máy tính. Chương trình máy tính, ở một góc độ nhất định, rất khác biệt với các tác phẩm dạng khác bởi chúng luôn hướng tới phục vụ mục đích chức năng. Do sự khác biệt này mà “sử dụng hợp lý” có vai trò quan trọng đối với việc tạo ra và nâng cấp các chương trình máy tính, trong điều kiện giữ được độc quyền đối với bản quyền chương trình máy tính trong giới hạn hợp pháp của nó[9]. Phán quyết này có thể giúp cho các ngành công nghệ phần mềm tiếp tục phát triển, không gặp vướng mắc trong các tiêu chuẩn hoặc chương trình đã lỗi thời. Trong khi Oracle cho rằng phán quyết trên đã hợp thức hóa hành vi trộm cắp của Google, nhờ đó mà hãng này đạt được tăng trưởng ngoạn mục. Nhưng đây lại là một tiền lệ rất có lợi cho các lập trình viên và người sử dụng, khuyến khích các lập trình viên tiếp tục cho ra đời các sản phẩm và dịch vụ phục vụ lợi ích người tiêu dùng. Đây là cách tiếp cận đơn giản được xem là có lợi cho người sử dụng và công chúng thông qua việc giảm thiểu chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
[1] Xem «Отец торрентов» обещает погубить традиционное телевещание [Электронный ресурс] // Newsland. Nguồn: http://newsland. com/news/detail/id/889501.
[2] Xem Всеобщая декларация по интеллектуальной собственности WIPO от 26.6.2000. Nguồn: https://rospatent.gov.ru/ru/documents/ vsemirnaya-deklaraciya-po-intellektualnoy-sobstvennosti-ot-26-iyunya- 2000-g.
[3] Xem Рахматулина Р. Ш. Свиридова Е.А. Актуальные проблемы интеллектуальной собственности. Учебное пособие. Издательство Прометей. Москва. 2018. C. 86-88. Nguồn: https://cyberleninka.ru/ article/n/spravedlivyy-balans-chastnyh-i-obschestvennyh-interesov-kakkriteriy-effektivnosti-pravovogo-regulirovaniya/viewer.
[4] Xem Пазюк, А. В. Свобода информации и защита интеллектуальной собственности в Интернет: тенденции международно-правового регулирования: докл. на VI Междунар. конф. «Право и Интернет. Nguồn: https://ifap.ru/pi/06/r09.htm.
[5] Xem Войниканис Е.А. Право интеллектуальной собственности в цифровую эпоху: парадигма баланса и гибкости, Мátxcơva, 2014, c.180-182.
[6] Xem Фонд развития Центра разработки и коммерциализации новых технологий» (Фонд «Сколково»), 2013 Интеллектуальная собственность и развитие общества: время прагматики, c.24-31.
[7] Xem Oracle America, Inc. v. Google Inc., 3:10-cv-03561, No. 1190 (N.D.Cal. May. 23, 2012) [Electronic resource] // Doceket Alarm. — Mode of access:
[8] Xem thêm Vấn đề bản quyền trong vụ kiện giữa Google và Oracle. Nguồn: http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Van-de-banquyen-trong-vu-kien-giua-Google-va-Oracle-637121/ và Trường hợp Vi phạm Bản quyền: Google LLC v. Oracle America Inc. Nguồn: https://www.intepat.com/vi/blog/copyright/copyright-infringement-casegoogle-llc-v-oracle-america-inc/.
[9] Xem Supreme court of “The United states. Syllabus. Google llc v. oracle America, inc.
Certiorari to The United states court of appeals for the federal circuit. No. 18-956. Argued October 7, 2020 - Decided April 5, 2021, https://www. supremecourt.gov/opinions/ 20pdf/18-956_d18f.pdf.