Ý tưởng thúc đẩy sáng tạo chính là nền tảng của cơ chế quyền sở hữu trí tuệ. Đó cũng chính là lợi ích chung gắn kết các bên liên quan trong các quan hệ về sở hữu trí tuệ. Tất cả các lợi ích cá nhân (tìm kiếm lợi nhuận từ việc sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; bảo vệ trước các hành vi xâm phạm; sử dụng tự do;...) đều phải được kết hợp theo cách hướng tới đóng góp vào sự tiến bộ chung của xã hội. Ngay từ khi mới hình thành, trong cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã thể hiện rất rõ ràng về việc: độc quyền cho một bên chủ thể cần được thực hiện trên cơ sở sự cân bằng lợi ích giữa người trực tiếp sáng tạo, người đầu tư vào hoạt động sáng tạo với người sử dụng. Thế giới hiện đại ngày nay đòi hỏi phải mở rộng hơn nữa thành phần các bên liên quan, tính đến các lợi ích mang tính đặc thù, các lợi ích có tính cạnh tranh lẫn nhau, đặc biệt là giữa các quốc gia.
Trong bối cảnh hiện đại, nhà nước trong quan hệ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở cấp độ khu vực và quốc tế có thể là một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia. Mỗi quốc gia sẽ có những lợi ích đặc biệt của mình, phản ánh chính sách, chiến lược sở hữu trí tuệ của quốc gia đó. Cũng có những khi một nhóm các quốc gia cùng có chung một số lợi ích nhất định. Đặc biệt, có những quốc gia là những nước theo truyền thống bị cáo buộc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ một cách phổ biến và thiếu kiểm soát (ví dụ: Trung Quốc, Nga,...). Cũng có những quốc gia chủ yếu là xuất khẩu các sản phẩm sở hữu trí tuệ (Mỹ, Nhật Bản, các nước phát triển là thành viên EU,...). Lợi ích của các quốc gia này sẽ không trùng lặp với lợi ích của các quốc gia tiêu thụ sản phẩm sở hữu trí tuệ nhiều hơn là cung cấp các sản phẩm này ra thị trường nước ngoài. Như vậy, giao lưu thương mại các đối tượng được bảo hộ đồng nghĩa với việc tài sản của nước nghèo được chuyển sang các nước giàu có hơn. Vấn đề cân đối lợi ích mâu thuẫn giữa các quốc gia được đặt ra. Những nước đang phát triển cho rằng sở hữu trí tuệ phải là tài sản của chung toàn xã hội, do vậy công nghệ cần phải được chuyển giao từ quốc gia này sang quốc gia khác mà không cần bất cứ sự cản trở nào. Mặc dù, đối với các quốc gia đang phát triển, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực. Vấn đề là thiết lập sự bảo hộ dưới góc độ nào, quan điểm nào. Đôi khi, các nước này ủng hộ quan điểm cho rằng: trình độ bảo hộ sở hữu trí tuệ cao sẽ dẫn đến việc tăng giá thành những sản phẩm được sản xuất dựa trên các công nghệ tiên tiến, hiện đại. Với danh nghĩa vì sự phát triển kinh tế, vì lợi ích chung của cộng đồng các nước này luôn mong muốn hạn chế việc bảo hộ: mở rộng việc cấp lixăng không tự nguyện, thậm chí đòi hỏi các sản phẩm được bảo hộ cần được sản xuất trong nước,... Hệ quả của những đối kháng trên chính là cuộc đấu tranh không ngừng vì sự phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cuộc đấu tranh này, theo các tác giả, có thể được chia ra làm 4 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: kéo dài cho đến thập niên 50 của thế kỷ XX. Đó là giai đoạn các nước kém phát triển duy trì hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tương đối hạn chế, hoặc là không gia nhập các thoả thuận quốc tế về bảo hộ sở hữu trí tuệ với những chuẩn mực bảo hộ tương đối cao hoặc họ gia nhập các công ước đó chỉ trên giấy tờ, còn trên thực tế họ hoàn toàn không thực hiện các điều khoản quy định.
- Giai đoạn 2: hầu như tất cả các quốc gia đều thiết lập hệ thống bảo hộ phù hợp với chuẩn mực quốc tế, nhưng một số nước vẫn không thể và không muốn bảo đảm trên thực tế việc tuân thủ các quy định về quyền sở hữu trí tuệ.
- Giai đoạn 3: không lâu kể từ thời điểm có quy định rằng các nước thành viên của WTO đều phải có nghĩa vụ bảo đảm việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên cam kết hình thức và trên thực tế. Giai đoạn này tuy chưa hoàn thành, nhưng hiện nay đã bắt đầu giai đoạn tiếp theo.
- Giai đoạn 4: có đặc trưng là những cố gắng nhằm mục đích tư hữu hóa những sản phẩm trí tuệ thuộc về quyền sử dụng chung của toàn xã hội. Những công ty cũng như các quốc gia là những nhà xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm trí tụê đang có xu hướng tăng cường sự bảo hộ cho các sản phẩm đó và cố gắng đưa chúng ra khỏi lĩnh vực sử dụng chung. Ví dụ: các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển đang có xu hướng kéo dài hơn thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm của công dân nước mình theo pháp luật quốc gia so với quy định tối thiểu trong Công ước Berne. Theo đó, thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với tác phẩm tại Mỹ và Liên minh châu Âu là suốt cuộc đời tác giả và 70 năm sau khi tác giả qua đời.
Ngoài ra, trong quá trình thiết lập các chuẩn mực quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mâu thuẫn lợi ích còn nảy sinh giữa chính các nước phát triển với nhau. Với việc thông qua Hiệp định TRIPS vào tháng 4/1994 tại vòng đàm phán Uruguay đã gặp phải không ít tranh luận với những lập trường khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát triển. Bên cạnh đó, giữa các nước phát triển cũng nảy sinh những mâu thuẫn nhất định về các quan điểm bảo hộ. Trong giai đoạn đầu của vòng đàm phán, tất cả các nước công nghiệp phát triển đều thống nhất về việc nhấn mạnh nhu cầu xem xét các quy định về sở hữu trí tuệ. Trong quá trình đàm phán tiếp theo, những bất đồng bắt đầu nảy sinh giữa các nước phát triển, trong đó chủ yếu là những mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước còn lại (Mỹ là nước xuất siêu các sản phẩm sở hữu trí tuệ nhiều nhất trên thế giới, kể cả với các đối thủ cạnh tranh như Nhật Bản). Những mâu thuẫn lợi ích giữa Mỹ với một số quốc gia (chủ yếu là Liên minh châu Âu và một số quốc gia khác trong đó có các nước phát triển và đang phát triển) xoay quanh những vấn đề như: về việc có đưa bảo hộ quyền tinh thần vào phạm vi điều chỉnh của Hiệp định hay không; về chế độ bảo hộ đối với quyền liên quan; về quyền cho thuê tác phẩm; về mở rộng phạm vi bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý; về thẩm quyền cấp lixăng cưỡng chế; về phạm vi áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO đối với những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; v.v.. Văn bản được thông qua của TRIPS thể hiện phương án ít nhiều trung hòa được những bất đồng về quan điểm bảo hộ giữa các nước phát triển[1].
Chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ các hệ thống toàn cầu và khu vực đáp ứng lợi ích của các quốc gia phát triển. Việc mở rộng phạm vi bảo hộ thông qua việc gia tăng thời hạn bảo hộ, tăng cường quyền năng đối với các đối tượng được bảo hộ và bổ sung các đối tượng mới được bảo hộ, ví dụ: công nghệ sinh học, phương pháp và kết quả công nghệ gen (được xem xét tại Điều 27 TRIPS) sẽ dẫn đến việc hạn chế chuyển giao công nghệ. Tình trạng tăng cường bảo hộ như vậy sẽ có lợi cho các chủ thể quyền và được các bên quan tâm đến tiếp nhận công nghệ nhìn nhận một cách tiêu cực bởi sẽ hạn chế khả năng đổi mới trong bối cảnh ngân sách R&D hạn chế. Cùng với những tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nếu bị lạm dụng sẽ có tác động tiêu cực[2]. Trong đó, có một vấn đề cấp bách đối với các nước đang phát triển là tăng cường hệ thống bảo đảm ở cấp độ quốc tế để ngăn chặn việc lạm dụng độc quyền trong chuyển giao công nghệ quốc tế. Trong các hoạt động hợp tác phát triển nói chung, xu hướng hiện nay cho thấy các quốc gia, khu vực đang dần tách khỏi các nền tảng chung đã thiết lập (nhưng không phải từ bỏ mà dựa trên đó) để tạo ra những liên kết nhỏ hơn nhưng có chiều sâu, nhằm hướng đến những “luật chơi” mới, khắc phục “tính phổ quát” của các quy tắc cũ. Một trong số các biểu hiện rõ ràng cho thấy xu hướng này là việc các quốc gia cùng nhau ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương hoặc đa phương. Xu hướng này tuy mới, nhưng cũng không nằm ngoài mục tiêu liên kết tìm kiếm lợi nhuận lớn nhất, lợi ích lớn nhất từ các nền kinh tế. Do đó, cần phải có những phân tích thấu đáo để tiến trình vận động vừa phù hợp với xu thế quốc tế, mà vẫn bảo đảm được tính bền vững cho các giá trị cốt lõi của quốc gia - đó chính là các quyền và lợi ích của người dân phải ngày càng được củng cố. Do các FTA chủ yếu được xem xét dưới góc độ hợp tác kinh tế nên việc tìm đến với các liên kết FTA có thể được nhìn nhận từ hai khía cạnh. Đối với những nền kinh tế mạnh, mục tiêu của họ là nhằm tìm kiếm các liên minh có tính chiến lược và thiết lập ở đó những quy tắc nền tảng mà ẩn chứa sau đó là các cam kết, thỏa thuận giữa các thành viên về an ninh kinh tế, thương mại lâu dài (ví dụ như Liên minh châu Âu, dù đây không đơn thuần là một liên hiệp về kinh tế, thương mại). Trong khi đó, các quốc gia nhỏ hơn coi việc tham gia vào các FTA với các đối tác lớn giống như việc tìm kiếm cơ hội để có được những thị trường rộng lớn của các đối tác này thông qua những nhượng bộ (qua lại lẫn nhau) về các rào cản thương mại của các bên sẽ giúp tạo những thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường cũng như các đồng thuận về các tiêu chuẩn mà ở đó các bên đều có lợi, bất kể các nước tham gia lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, mục đích kinh tế nhiều khi không phải là ưu tiên của các quốc gia trong bài toán FTA. Một số quốc gia coi việc tham gia vào FTA giống như một bước đệm để tiến tới các mục tiêu xa hơn trong tương lai. Trong những trường hợp như vậy, mục tiêu ẩn chứa đằng sau các giá trị kinh tế dường như là cơ hội hoàn thiện hệ thống pháp lý trong nước để từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn. Nhờ đó, quốc gia sẽ sớm thiết lập được khuôn khổ pháp lý nội bộ nhằm bảo đảm sự an toàn cho việc tham gia của chính họ vào các liên kết lớn hơn[3]. Đồng thời, thông qua việc ký kết các FTA như vậy, cũng giúp các quốc gia nhận được sự hỗ trợ của đối tác trong tiến trình cải cách. Ví dụ, đối với Việt Nam, sau khi ký kết Hiệp định song phương với Hoa Kỳ đã nhận được hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ trong thực hiện các cam kết (theo dự án STAR) như cung cấp trợ giúp kỹ thuật trong các lĩnh vực cải cách pháp lý, hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, minh bạch cho Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như cung cấp cho Việt Nam những kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu trong thực thi các cam kết thương mại[4].
[1] Xem Nguyễn Thị Quế Anh: Nhìn nhận về xu hướng phát triển của hệ thống pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2009, tr.44-50.
[2] TRIPS cũng đề cập vấn đề này tại khoản 2 Điều 8 “Có thể cần đến những biện pháp phù hợp, miễn là không trái với các quy định của Hiệp định này, để ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ bởi những người nắm quyền hoặc ngăn chặn các hành vi gây cản trở hoạt động thương mại một cách bất hợp lý hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chuyển giao công nghệ quốc tế” và khoản 1 Điều 40 “Các thành viên thừa nhận rằng một số hoạt động hoặc điều kiện cấp lixăng gắn liền với các quyền sở hữu trí tuệ có tính chất hạn chế cạnh tranh có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động thương mại và có thể cản trở việc chuyển giao và phổ biến công nghệ”.
[3] Xem Nguyễn Anh Đức: Tham gia các hiệp định thương mại tự do dựa trên tiếp cận quyền con người, bài viết trong Lê Thị Hoài Thu và Vũ Công Giao chủ biên: Ảnh hưởng của thương mại tự do đến nhân quyền, sách chuyên khảo, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2017, tr.45-46.
[4] Xem Bộ Thương mại: Báo cáo tổng hợp một số vấn đề chủ yếu cần xử lý khi thực hiện các cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và tiến trình tham gia WTO của Việt Nam, Đề tài cấp bộ, Hà Nội, 2004, tr.36.