VNU Logo
Thư viện sốVNU OfficeE-mailIT ServicesSitemap
  • Logo
  • Giới thiệu
    • Tổng quan
      • Lịch sử
      • Sứ mạng - Tầm nhìn
      • Chiến lược phát triển
      • Thi đua - Khen thưởng
      • Số liệu thống kê
      • Các cơ sở của ĐHQGHN
      • Website kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN
    • Cơ cấu tổ chức
      • Sơ đồ tổ chức
      • Ban Giám đốc
      • Đảng ủy
      • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
      • Văn phòng & ban chức năng
      • Công đoàn ĐHQGHN
      • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
      • Các trường đại học thành viên
      • Các trường thuộc
      • Các đơn vị nghiên cứu khoa học
      • Các trung tâm đào tạo môn chung
      • Các đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
      • Văn bản pháp quy
      • Thủ tục hành chính trực tuyến
    • Ba công khai
      • Chất lượng đào tạo
      • Cơ sở vật chất
      • Tài chính
      • Số liệu tổng hợp
    • Báo cáo thường niên ĐHQGHN
    • Ấn phẩm Giới thiệu ĐHQGHN
    • Video
    • Logo ĐHQGHN
    • Bài hát truyền thống
    • Tiến sĩ danh dự của ĐHQGHN
  • Đào tạo
    • Giới thiệu chung
    • Kế hoạch học tập và giảng dạy
    • Chương trình đào tạo bậc đại học
    • Chương trình đào tạo thạc sĩ
    • Chương trình đào tạo tiến sĩ
    • Chương trình đào tạo liên kết
    • Đào tạo hệ THCS và THPT
    • Số liệu thống kê
    • Mẫu văn bằng
    • Văn bản liên quan
  • Khoa học công nghệ
    • Giới thiệu chung
    • Hoạt động Khoa học - Công nghệ
    • Chiến lược KHCN&ĐMST 2021-2030
    • Chương trình, dự án, đề tài
      • Chương trình KHCN cấp Nhà nước
      • Đề tài cấp Nhà nước
      • Chương trình KHCN cấp ĐHQGHN
      • Đề tài cấp ĐHQGHN
      • Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
      • Nghiên cứu ứng dụng
    • Hệ thống phòng thí nghiệm
    • Nhóm nghiên cứu
    • Các hội đồng chuyên môn
    • Quỹ phát triển khoa học & công nghệ
      • Giới thiệu
      • Điều lệ, tổ chức hoạt động
    • Giải thưởng Khoa học - Công nghệ
      • Giải thưởng Hồ Chí Minh
      • Giải thưởng Nhà nước
      • Giải thưởng quốc tế
      • Giải thưởng ĐHQGHN
      • Giải thưởng khoa học sinh viên
      • Các giải thưởng khác
    • Các sản phẩm KHCN
      • Các ấn phẩm
      • Sở hữu trí tuệ
      • Các sản phẩm công nghệ, kỹ thuật
      • Bài báo khoa học
    • Chuyển giao tri thức & hỗ trợ khởi nghiệp
    • Văn bản liên quan
  • Hợp tác & phát triển
    • Giới thiệu chung
      • Lời giới thiệu
      • Đội ngũ
      • Bản tin hợp tác phát triển - PDF
    • Hợp tác quốc tế
      • Đối tác quốc tế
        • Châu Á
        • Châu Âu
        • Châu Đại dương
        • Châu Mỹ
      • Chương trình hợp tác
        • Trao đổi & học bổng
        • Hợp tác nghiên cứu
        • Hội nghị - Hội thảo
      • Mạng lưới hợp tác quốc tế
        • AUF
        • AUN
        • ASAIHL
        • BESETOHA
        • CONFRASIE
        • UMAP
        • SATU
      • Các thỏa thuận hợp tác quốc tế
    • Hợp tác trong nước
      • Các đối tác trong nước
      • Các dự án trong nước
        • Danh mục các nhiệm vụ KHCN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương
        • Trường ĐH Khoa học Tự nhiên
        • Trường ĐH Công nghệ
        • Trường ĐH Kinh tế
        • Viện Việt Nam học và KHPT
        • Viện Vi sinh vật và CNSH
    • Văn bản quản lý
      • Văn bản liên quan
      • Sổ tay Hợp tác quốc tế
  • Sinh viên
    • Giới thiệu chung
    • Học bổng
      • Trong nước
      • Ngoài nước
      • Quy định
      • Tin tức
      • Đăng ký học bổng
    • Hỗ trợ sinh viên
      • Đoàn - Hội
      • Đời sống
      • Các câu lạc bộ
      • Tư vấn, hỗ trợ việc làm
      • Vay vốn
      • Ký túc xá sinh viên
    • Chương trình trao đổi sinh viên
    • Cựu sinh viên
    • Văn bản - Biểu mẫu
  • Cán bộ
    • Giới thiệu chung
    • Số liệu thống kê
      • Theo đối tượng, vị trí việc làm
      • Theo chức danh khoa học và trình độ đào tạo
    • Danh hiệu nhà giáo
      • Nhà giáo Nhân dân
      • Nhà giáo Ưu tú
    • Đội ngũ GS, PGS
      • Các Giáo sư
      • Các Phó giáo sư
    • Tuyển dụng
      • Kênh thu hút nhà khoa học
      • Ứng tuyển & hợp tác
      • Vị trí tuyển dụng
      • Thông tin hữu ích
      • Liên hệ, đề xuất
    • Văn bản liên quan
  • Các đơn vị thành viên
    • Trường đại học thành viên
      • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
      • Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
      • Trường Đại học Ngoại ngữ
      • Trường Đại học Công nghệ
      • Trường Đại học Kinh tế
      • Trường Đại học Giáo dục
      • Trường Đại học Việt Nhật
      • Trường Đại học Y Dược
      • Trường Đại học Luật
    • Trường trực thuộc
      • Trường Quản trị và Kinh doanh
      • Trường Quốc tế
      • Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật
    • Viện nghiên cứu
      • Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
      • Viện Tài nguyên và Môi trường
      • Viện Công nghệ thông tin
      • Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
      • Viện Trần Nhân Tông
      • Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo
        • Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến
        • Viện Nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển bền vững
        • Viện Công nghệ Lượng tử
        • Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ trợ khởi nghiệp
        • Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực
        • Trung tâm hỗ trợ sinh viên
    • Trung tâm đào tạo trực thuộc
      • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
      • Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao
    • Đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Ban Quản lý dự án
      • Ban Quản lý Dự án World Bank
      • Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục
      • Trung tâm Quản lý đô thị đại học
      • Trung tâm Thư viện và Tri thức số
      • Tạp chí Khoa học
      • Viện Quản lý chất lượng và Khảo thí
    • Đơn vị khác
      • Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á
      • Văn phòng Hợp tác ĐHQGHN - ĐH Arizona
      • Văn phòng các chương trình KH&CN trọng điểm ĐHQGHN
      • Quỹ Phát triển KH&CN
      • Quỹ Phát triển ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Cựu sinh viên
VNU Logo

Giấy phép số 993/GP-TTĐT ngày 20/3/2020 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Khu đô thị Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hòa Lạc, Hà Nội

 media@vnu.edu.vn

 

Thứ ba18-08-2026
|Tin tức & Sự kiệnTin tức chung

PGS.TS Trần Thành Nam: Cần nhìn nhận mạng xã hội như một “môi trường sống” mới của trẻ em và thanh thiếu niên

Internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc cách trẻ em, thanh thiếu niên học tập, giao tiếp, giải trí và xây dựng bản sắc cá nhân. Theo PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, vấn đề hiện nay không phải là loại bỏ mạng xã hội khỏi đời sống của trẻ, mà là xây dựng một môi trường số an toàn, lành mạnh, đồng thời trang bị cho trẻ năng lực tự bảo vệ và sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm. Nhân dịp hội hảo “Mạng xã hội và sức khỏe tâm thần của trẻ em, thanh thiếu niên: Một vấn đề cấp thiết cần hành động” diễn ra tại Hà Nội ngày 15/8/2026, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn Hiệu trưởng Trần Thành Nam về một số nội dung liên quan.

 PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ tại hội thảo "Mạng xã hội và sức khỏe tâm thần của trẻ em, thanh thiếu niên: Một vấn đề cấp thiết cần hành động” diễn ra tại Hà Nội ngày 15/8/2026

- Thưa PGS.TS Trần Thành Nam, mạng xã hội hiện chiếm vị trí như thế nào trong đời sống của trẻ em và thanh thiếu niên?

PGS.TS Trần Thành Nam: Có thể nói Internet và mạng xã hội đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống của thế hệ trẻ. Năm 2025, khoảng 74% dân số thế giới sử dụng Internet, tương đương khoảng 6 tỷ người. Đáng chú ý, nhóm 15–24 tuổi là nhóm có tỷ lệ sử dụng Internet cao nhất, khoảng 82% trên phạm vi toàn cầu.

Tại Việt Nam, mức độ phổ cập Internet và mạng xã hội cũng rất cao, với 78,6% dân số sử dụng Internet và 73,7% sử dụng mạng xã hội. Người dùng dành trung bình gần 7 giờ mỗi ngày cho các hoạt động trực tuyến, trong đó 94% sử dụng Internet hằng ngày.

Với học sinh, một khảo sát trên 1.015 học sinh THCS và THPT tại ba miền cho thấy 90,54% học sinh sử dụng TikTok; thời gian dành cho mạng xã hội có thể chiếm từ 1/6 đến 1/4 thời gian trong ngày và 22,5% học sinh cho biết thường dành trên 6 giờ mỗi ngày cho mạng xã hội.

Theo tôi, những con số này cho thấy chúng ta cần thay đổi cách nhìn về mạng xã hội. Đây không còn đơn thuần là một công cụ giải trí, mà đã trở thành một không gian quan trọng để người trẻ giao tiếp, tìm kiếm thông tin, thể hiện bản thân và hình thành các mối quan hệ xã hội.

Bởi vậy, khi bàn về sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên trong thời đại số, chúng ta không thể tách câu chuyện sử dụng mạng xã hội khỏi đời sống tâm lý, giáo dục và xã hội của các em.

- Có ý kiến cho rằng sử dụng mạng xã hội nhiều đang trở thành nguyên nhân dẫn đến các vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ. PGS. nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

PGS.TS Trần Thành Nam: Tôi cho rằng chúng ta cần thận trọng với cách nhìn theo quan hệ nhân - quả đơn giản như vậy. Bản thân mạng xã hội không phải lúc nào cũng gây ra tác động tiêu cực. Tác động của mạng xã hội đến sức khỏe tâm thần mang tính đa chiều và phức tạp, bởi hành vi sử dụng mạng xã hội phục vụ những mục đích khác nhau và có thể tạo ra những kết quả khác nhau đối với từng người.

Ở chiều tích cực, mạng xã hội tạo điều kiện để thanh thiếu niên kết nối với bạn bè, gia đình và các cộng đồng có chung sở thích. Với những người đang gặp khó khăn về sức khỏe tâm thần, tương tác trực tuyến đôi khi tạo ra một không gian giao tiếp dễ tiếp cận hơn. Các mạng lưới hỗ trợ đồng đẳng trực tuyến cũng có thể giúp người trẻ chia sẻ trải nghiệm, tìm kiếm thông tin, kết nối với những người có hoàn cảnh tương tự và giảm cảm giác cô đơn.

Chúng ta cùng thấy rằng, mạng xã hội đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận kiến thức, truyền cảm hứng học tập và giúp thanh thiếu niên tham gia vào nhiều vấn đề xã hội. Tuy nhiên, môi trường này cũng có thể trở thành nguồn gây tổn thương nếu trẻ thiếu kỹ năng nhận diện và kiểm soát rủi ro.

- Vậy những rủi ro nào trên môi trường mạng đang tác động đáng kể đến sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên, thưa PGS.?

PGS.TS Trần Thành Nam: Trẻ em và thanh thiếu niên có thể đối diện với nhiều nhóm rủi ro, từ nội dung độc hại, tiếp xúc với người lạ có ý đồ gây hại, bắt nạt và quấy rối trực tuyến cho tới những hoạt động thương mại nguy hiểm.

Điều tôi đặc biệt lưu ý là tình trạng sử dụng mạng xã hội quá mức, mất kiểm soát hoặc lệ thuộc. Những hành vi này có thể đi kèm với các vấn đề về giấc ngủ, căng thẳng, hình ảnh bản thân, cô đơn và các triệu chứng trầm cảm, lo âu.

Trong 11 nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, có 8 nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ giữa nghiện kỹ thuật số và trầm cảm; 6 nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ với lo âu; 5 nghiên cứu ghi nhận các vấn đề khác như căng thẳng, cô đơn, rối loạn giấc ngủ và suy giảm chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng không nên từ những kết quả này đi đến kết luận đơn giản rằng sử dụng mạng xã hội trực tiếp gây ra các vấn đề sức khỏe tâm thần. Mối quan hệ này có thể diễn ra theo cả hai chiều: sử dụng mạng xã hội không lành mạnh có thể làm nặng thêm các triệu chứng lo âu, trầm cảm; ngược lại, những người đã có khó khăn về tâm lý cũng có thể tìm đến mạng xã hội nhiều hơn.

-  Theo ông vì sao thanh thiếu niên lại dễ chịu tác động từ môi trường mạng hơn những nhóm tuổi khác?

PGS.TS Trần Thành Nam: Điều này trước hết liên quan đến đặc điểm phát triển của lứa tuổi. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi về sinh học, tâm lý và xã hội; não bộ vẫn tiếp tục phát triển, trong khi nhu cầu tìm kiếm phần thưởng và sự chấp nhận của bạn bè lại gia tăng.

Từ góc độ tâm lý học, tôi cho rằng một cơ chế rất đáng chú ý là so sánh xã hội. Trên mạng xã hội, trẻ thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh, thành tích hay lối sống đã được lựa chọn và trau chuốt của người khác. Khi đem cuộc sống thực của mình so sánh với những “phiên bản đẹp nhất” của người khác trên mạng, trẻ có thể hình thành cảm giác mình kém cỏi hoặc không đủ tốt.

Tương tự, sự công nhận trực tuyến cũng có thể ảnh hưởng đến lòng tự trọng. Lượt thích, bình luận, người theo dõi hay mức độ tương tác có thể khiến một số bạn trẻ gắn giá trị bản thân với phản hồi trên mạng. Khi sự công nhận không đạt kỳ vọng, các em có thể cảm thấy bị từ chối, lo âu hoặc nghi ngờ chính mình.

- PGS. Có cho rằng phải chăng vấn đề không chỉ nằm ở cách trẻ sử dụng mạng xã hội mà còn liên quan đến chính cách các nền tảng được thiết kế?

PGS.TS Trần Thành Nam: Đúng vậy. Đây là khía cạnh mà theo tôi cần được quan tâm nhiều hơn. Các tính năng như cuộn vô hạn, video tự động phát, thông báo đẩy, lượt thích, bình luận, chia sẻ hay thuật toán cá nhân hóa làm giảm những “điểm dừng tự nhiên”, khiến người dùng có xu hướng tiếp tục tương tác lâu hơn dự định.

Vì vậy, khi nói đến việc bảo vệ người dùng trẻ tuổi, chúng ta không thể chỉ tập trung vào việc yêu cầu trẻ tự kiểm soát hành vi. Trách nhiệm của các nền tảng công nghệ cũng cần được đặt ra trong chính quá trình thiết kế và vận hành sản phẩm.

- Một vấn đề khác đang khiến nhiều phụ huynh và nhà trường lo lắng là bắt nạt trực tuyến. Mức độ đáng lo ngại của hiện tượng này hiện nay ra sao, thưa PGS.?

PGS.TS Trần Thành Nam: Theo tôi, đây là một trong những nguy cơ cần được đặc biệt lưu ý. Một số nghiên cứu được tổng hợp cho thấy tỷ lệ học sinh từng trải nghiệm bắt nạt trực tuyến tại Việt Nam ở mức đáng quan tâm. Chẳng hạn, một khảo sát trên 372 học sinh lớp 8 và lớp 9 ghi nhận 54,6% học sinh từng bị bắt nạt qua mạng.

Khác với nhiều hình thức bắt nạt truyền thống, bắt nạt trực tuyến có thể lan truyền rất nhanh, tiếp cận nhiều người và kéo dài trên môi trường số. Điều đáng lo ngại là nạn nhân có thể rất khó tìm được một không gian thực sự thoát khỏi trải nghiệm tiêu cực.

Chính đặc điểm đó có thể làm gia tăng cảm giác cô lập và suy giảm sự gắn kết của trẻ với bạn bè, gia đình hoặc trường học.

- Trước những nguy cơ như vậy, nhiều phụ huynh lựa chọn giới hạn thời gian sử dụng điện thoại, thậm chí cấm con sử dụng mạng xã hội. Theo ông, đây có phải là giải pháp hiệu quả?

PGS.TS Trần Thành Nam: Theo tôi, nếu chỉ dựa vào cấm đoán thì chưa đủ. Bảo vệ sức khỏe tâm thần của trẻ em trong môi trường số không thể chỉ đặt lên vai gia đình hay yêu cầu trẻ tự hạn chế sử dụng thiết bị. Đây phải là trách nhiệm chung của gia đình, nhà trường, cơ quan quản lý và các nền tảng công nghệ.

Với gia đình, điều quan trọng là cha mẹ cần hiểu môi trường số mà trẻ đang sống, thay vì chỉ kiểm soát bằng cấm đoán. Cha mẹ cần xây dựng giao tiếp cởi mở để trẻ có thể chia sẻ khi gặp nội dung độc hại, bị bắt nạt hoặc cảm thấy bất an trên mạng.

Mục tiêu không phải chỉ là quản lý trẻ sử dụng thiết bị bao nhiêu giờ, mà quan trọng hơn là giúp các em hình thành khả năng nhận biết nguy cơ, tự điều chỉnh hành vi và biết tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết.

- Nhà trường cần đóng vai trò như thế nào khi coi mạng xã hội như một “môi trường sống” mới của trẻ em và thanh thiếu niên, thưa PGS.?

PGS.TS Trần Thành Nam: Tôi cho rằng nhà trường cần trở thành một trong những nơi có khả năng phát hiện và hỗ trợ sớm. Vai trò của nhà trường không chỉ dừng lại ở giáo dục kiến thức và kỹ năng số mà còn cần nhận diện những dấu hiệu bất thường về sức khỏe tâm thần có liên quan đến môi trường số, từ đó kết nối học sinh với các nguồn hỗ trợ phù hợp.

Ở cấp độ rộng hơn, cần xây dựng những hướng dẫn rõ ràng về sử dụng công nghệ lành mạnh; nâng cao năng lực cho lực lượng giáo dục và y tế; đầu tư nghiên cứu dài hạn về tác động của mạng xã hội và AI đối với sức khỏe tâm thần; đồng thời phát triển các hoạt động ngoại tuyến để tạo sự cân bằng với đời sống trên màn hình.

- Còn trách nhiệm của các nền tảng công nghệ cần được thể hiện như thế nào, thưa PGS.?

PGS.TS Trần Thành Nam: Quan điểm của tôi là chúng ta không thể đặt toàn bộ trách nhiệm lên vai trẻ em và cha mẹ hay nhà trường. Các nền tảng công nghệ cũng là một trong những tác nhân liên đới, cần được tăng cường trách nhiệm trong thiết kế sản phẩm, giảm thiểu các tính năng có khả năng gây hại và phát triển những giải pháp bảo vệ người dùng trẻ tuổi.

Xa hơn, tác động đến sức khỏe tâm thần cần được tính đến ngay trong quá trình thiết kế và quản trị nền tảng số. Khi một sản phẩm có hàng triệu trẻ em sử dụng mỗi ngày, việc bảo đảm an toàn cho người dùng trẻ tuổi phải trở thành một phần trong trách nhiệm của chính đơn vị phát triển và vận hành nền tảng.

- Theo PGS. đâu là thay đổi quan trọng nhất về tư duy trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số?

PGS.TS Trần Thành Nam: Tôi cho rằng thay đổi quan trọng nhất là chuyển từ tư duy chỉ “bảo vệ trẻ khỏi Internet” sang “bảo vệ đi đôi với trao quyền”.

Chúng ta cần nhìn vào thực tế rằng môi trường số đã trở thành một phần trong đời sống của trẻ. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là tạo ra một thế hệ trẻ hoàn toàn tránh xa môi trường số, mà là giúp các em có đủ năng lực nhận diện rủi ro, kiểm soát hành vi số, biết tìm kiếm sự hỗ trợ và biết chăm sóc sức khỏe tâm thần của chính mình trong môi trường trực tuyến.

Theo hướng đó, cần tích hợp sức khỏe tâm thần số vào chính sách và hệ thống giám sát; đưa phát hiện sớm và hỗ trợ sức khỏe tâm thần vào hệ thống bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; tích hợp nội dung sức khỏe tâm thần vào giáo dục năng lực số và giáo dục sức khỏe; đồng thời đánh giá tác động sức khỏe tâm thần ngay trong quá trình thiết kế và quản trị các nền tảng số.

- Theo PGS. nên gửi một thông điệp tới gia đình, nhà trường và xã hội trong bối cảnh trẻ em ngày càng dành nhiều thời gian trên môi trường số?

PGS.TS Trần Thành Nam: Điều tôi muốn nhấn mạnh là không một chủ thể nào có thể giải quyết vấn đề này một cách đơn lẻ, dộc lập. Chúng ta cần hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa y tế, giáo dục, gia đình, hệ thống bảo vệ trẻ em và các nền tảng công nghệ. Chỉ khi các chủ thể cùng tham gia, việc xây dựng môi trường số an toàn cho trẻ mới có thể đạt hiệu quả bền vững.

Trong bối cảnh thanh thiếu niên ngày càng dành nhiều thời gian cho môi trường số, theo tôi, sức khỏe tâm thần số cần được nhìn nhận như một thành tố quan trọng của sức khỏe và sự phát triển toàn diện.

Vì thế, thay vì chỉ đặt câu hỏi “làm thế nào để trẻ không dùng mạng xã hội?”, điều quan trọng hơn là chúng ta phải trả lời được câu hỏi: “Làm thế nào để trẻ có thể sống, học tập, giao tiếp và phát triển lành mạnh trong một thế giới mà mạng xã hội đã trở thành một phần tất yếu?”

Xin trân trọng cảm ơn Hiệu trưởng PGS.TS Trần Thành Nam về cuộc trao đổi này.

>>> Tin bài liên quan:

- Mạng xã hội và sức khỏe tâm thần của trẻ em, thanh thiếu niên: Một vấn đề cấp thiết cần hành động

VNU Media
avatar
send icon

Có thể bạn quan tâm

  • Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ định đồng chí Phạm Bảo Sơn, Phó Giám đốc ĐHQGHN, tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên nhiệm kỳ 2025 – 2030
  • [Longform] Trường Đại học Luật ĐHQGHN: 50 năm vun bồi tri thức pháp lý và phụng sự đất nước
  • VJSS-2026: Kết nối nghiên cứu, đào tạo và công nghiệp bán dẫn Việt Nam - Nhật Bản
  • Diễn đàn Luật học Mùa Thu 2026: Từ thành tựu nửa thế kỷ đến yêu cầu kiến tạo thể chế phát triển
  • Ngày hội Anh tài CSS 2026: Không gian rèn luyện, giao lưu và kết nối sinh viên ĐHQGHN
  • ĐHQGHN kiện toàn nhân sự lãnh đạo chủ chốt trong lĩnh vực đào tạo
  • Giảng viên ĐHQGHN tham gia Hội đồng Sơ tuyển phim HANIFF VIII
Chia sẻ
Share on Facebook
Share on Zalo
Danh mục

Tin tức chung

Đột phá theo các nghị quyết Trung ương

Tuyển sinh

Đào tạo

▶

Hợp tác - Phát triển

▶

Khoa học và Công nghệ

▶

Media

▶

Tin các đơn vị

Công tác Đảng

Sinh viên

Con người VNU

Câu lạc bộ nhà khoa học

Tạp chí Khoa học

Sách và học liệu

VNU & báo chí

Xếp hạng đại học

Các hoạt động đoàn thể

Bài viết liên quan

Mạng xã hội và sức khỏe tâm thần của trẻ em, thanh thiếu niên: Một vấn đề cấp thiết cần hành động
15-08-2026

Mạng xã hội và sức khỏe tâm thần của trẻ em, thanh thiếu niên: Một vấn đề cấp thiết cần hành động

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh, sinh viên để thích ứng linh hoạt với dạy, học trực tuyến
10-05-2022

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh, sinh viên để thích ứng linh hoạt với dạy, học trực tuyến

Cần đẩy mạnh nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở học sinh và giáo viên
09-04-2025

Cần đẩy mạnh nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở học sinh và giáo viên