Từ cách tiếp cận lịch sử - thể chế, bài viết lập luận rằng sự phát triển của Việt Nam học gắn liền với quá trình tích hợp tri thức và thể chế hóa liên ngành trong hệ thống đại học, qua đó hình thành một truyền thống liên ngành đặc thù trong khoa học nghiên cứu Việt Nam hiện đại.
2. Bối cảnh thành lập Đại học Đông Dương
Cho đến đầu thế kỷ XX, nền giáo dục và khoa cử Nho học đã tồn tại ở Việt Nam suốt gần 10 thế kỷ. Tính từ năm 1075 đến năm 1919, các triều đại quân chủ đã tổ chức được tổng cộng 183 khoa thi Hội, tuyển chọn được 2.893 tiến sĩ . Kết quả đó là minh chứng rõ nét cho một nền giáo dục đã ngấm sâu trong đời sống chính trị - xã hội đất nước, đồng thời trực tiếp tạo ra một lực lượng hùng hậu tham gia vào công việc quản lý, điều hành quốc gia qua các thời kỳ. Trong số này có nhiều nhân vật kiệt xuất đã đem tài năng, trí tuệ và công sức đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, trở thành những danh nhân lịch sử, nhà chính trị, văn hóa, ngoại giao… của dân tộc. Chính nền giáo dục và khoa cử Nho học đã tạo nên truyền thống hiếu học và bề dày “ngàn năm văn hiến” của Việt Nam. Tư tưởng của nền giáo dục Nho học không chỉ thấm nhuần trong tầng lớp Nho sĩ, mà dần thâm nhập sâu vào đời sống xã hội, tạo lập trật tự kỷ cương, chuẩn mực đạo đức và hòa quyện cùng những giá trị nhân văn vốn có của người Việt. Bản sắc văn hóa và nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam cũng được tạo dựng từ đó và không ngừng được vun bồi.
Tuy nhiên, nền giáo dục truyền thống ấy có không ít những hạn chế và bất cập. Từ khoảng thế kỷ XIX, giáo dục Nho học không chỉ ở Việt Nam, mà trên phạm vi tất cả những quốc gia sử dụng nó đã phơi bày đầy đủ những điểm yếu cố hữu. Tư tưởng Nho giáo bản chất là một học thuyết chính trị - xã hội phục vụ cai trị thần dân và thiết lập kỷ cương phép nước. Nội dung của nền giáo dục đó mang tính bảo thủ, không tránh khỏi tính chất kinh viện - xa rời đời sống thực tế, có xu hướng thiên lệch về khoa học xã hội và nhân văn, ít có dư địa cho tư duy sáng tạo… Mục đích của khoa cử chủ yếu là tuyển chọn người ra làm quan, vô hình chung đã tạo nên hệ quả tiêu cực của một nền giáo dục và khoa cử thực dụng, trì trệ. Khi nhà Nguyễn cố gắng khôi phục và củng cố thiết chế quân chủ tập quyền đã ra sức sử dụng Nho giáo như một công cụ bảo vệ những chính sách bảo thủ, lạc hậu của mình, nhưng rút cuộc đã đưa đất nước lún sâu vào khủng hoảng và tụt hậu, để rồi mất độc lập vào tay thực dân Pháp. Chính quyền Pháp từng bước xóa bỏ giáo dục Nho học để thay thế bằng một nền giáo dục thực dân. Nho học không còn phù hợp với chế độ mới và cũng không thể đáp ứng yêu cầu phát triển mới của xã hội Việt Nam.
Để phục vụ công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa, từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã bắt đầu thiết lập một nền giáo dục và đào tạo mới ở Đông Dương. Bên cạnh loại hình trường học truyền thống của người bản xứ vẫn được duy trì tại các địa phương, chính quyền Pháp cho xây dựng mới một số trường học được tổ chức và đào tạo theo mô hình châu Âu nhằm đào tạo đội ngũ công chức cấp thấp người bản xứ. Đó là các trường: Trường Hậu bổ (Ecole d’Administrion, lập năm 1897), Trường Dạy nghề (Ecole Professionelle, do Phòng Thương mại Hà Nội lập năm 1898), Trường Công chính (Ecole des Travaux Publics, lập năm 1902), Trường Y khoa Hà Nội (Ecole de Médecine de Hanoi, lập năm 1902)… Cùng với đó, Pháp cho lập một số cơ quan nghiên cứu: Viện Vi trùng Sài Gòn (1891), Viện Pasteur Nha Trang (1895), Nha Bản đồ địa chất (1897), Sở Thú y (1897), Viện Viễn Đông Bác cổ (1898), Nha Khí tượng Đông Dương (1898), Viện Nghiên cứu Nông nghiệp và Kỹ nghệ Sài Gòn (1898), Nha Địa lý Đông Dương (1899)… Các cơ sở nghiên cứu khoa học này hoạt động gần như biệt lập hoàn toàn với các cơ sở đào tạo nêu trên. Điều đó gây ra những hạn chế của hệ thống giáo dục đại học, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cũng như công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương.
Năm 1902, Paul Beau được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương, bắt đầu xây dựng một hệ thống giáo dục đại học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh hơn. Sau một thời gian nghiên cứu và khảo sát kỹ, với tư tưởng cải cách giáo dục tiến bộ, Paul Beau quyết định thành lập Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) vào ngày 16/5/1906.
Lý do thành lập Đại học Đông Dương, như trong Nghị định số 1514a đã nêu rõ: “Cơ sở đào tạo này có nhiệm vụ phổ biến ở Viễn Đông, chủ yếu là thông qua tiếng Pháp, những kiến thức về các ngành khoa học và các phương pháp châu Âu” (Điều 1). Mục đích thành lập Trường là nhằm “đào tạo nhân viên bản xứ cho các bộ máy hành chính địa phương hoặc các cơ quan chuyên môn thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương (Điều 9). Đó là lý do và mục đích chính, nhưng nghiên cứu kỹ sẽ thấy những hàm ý khác ẩn phía sau. Thứ nhất, việc thành lập Đại học Đông Dương nằm trong chương trình cải cách giáo dục của Pháp ở thuộc địa nhằm hạn chế và tiến tới chấm dứt ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam, xóa bỏ dần Nho học và thay vào đó là một nền học vấn kiểu mới theo mô hình phương Tây. Thứ hai, Đại học Đông Dương sẽ trực tiếp giải quyết vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, tại chỗ với chi phí rẻ hơn (so với gửi sang chính quốc) để cung cấp cho bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương. Thứ ba, hệ thống đào tạo đại học này sẽ đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của người bản xứ, trước hết là người Việt nhằm cạnh tranh trực tiếp với phong trào Đông Kinh nghĩa thục - đưa thanh niên Việt Nam sang học tập tại Nhật Bản, Trung Hoa.
Đại học Đông Dương ra đời (năm 1906) đã chính thức đánh dấu sự xuất hiện của hệ thống giáo dục đại học hiện đại theo mô hình phương Tây ở Việt Nam, là bước chuẩn bị cần thiết để đi tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ giáo dục và khoa cử Nho học truyền thống. Đây là một đại học công lập có vị thế cao (trực thuộc Toàn quyền Đông Dương, do viên Tổng Giám đốc Nha Học chính đứng đầu Hội đồng quản trị, tài chính do ngân sách của chính quyền Liên bang và địa phương cung cấp…), làm nòng cốt và dẫn dắt hệ thống đại học trên toàn cõi Đông Dương. Một đặc điểm nổi bật và cũng là di sản quan trọng mà Đại học Đông Dương để lại cho lịch sử giáo dục Việt Nam đó là mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực và tích hợp liên ngành.
3. Sự hình thành và phát triển của mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực
Ngay từ khi ra đời, Đại học Đông Dương đã là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực. Theo Nghị định thành lập, Đại học Đông Dương bao gồm 5 trường thành viên, đa số đã hoạt động từ trước đó:
1) Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính (Ecole supérieure de Droit et Administration): gồm 3 khoa, được thành lập bởi Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục Bản xứ (Conseil de Perfectionnement de l›Enseignement Indigène). Trong số 3 khoa đó, khoa thứ nhất đã có từ trước, chính là Trường Hậu bổ Hà Nội (thành lập năm 1897), nơi đào tạo các quan chức cho bộ máy hành chính người bản xứ.
2) Trường Cao đẳng Khoa học (Ecole supérieure des Sciences): đào tạo các ngành Toán, Vật lý, Hóa học và Sinh vật. Nhiệm vụ của trường là đào tạo những người làm công tác nghiên cứu khoa học và những giáo viên trung học hoặc cao đẳng sư phạm. Trường được trang bị các phòng thí nghiệm khá hiện đại ở thời điểm bấy giờ. Khoá học của năm thứ nhất không chỉ dành riêng cho sinh viên của trường này mà còn cho sinh viên của các trường khác như Trường Y, Trường Xây dựng dân dụng…
3) Trường Cao đẳng Y khoa (Ecole supérieure de Médecine): được thành lập trên cơ sở Trường Y khoa Hà Nội (ra đời theo Nghị định ngày 8/1/1902 và được đổi tên thành Trường Y Đông Dương theo Nghị định ngày 25/10/1904 của Toàn quyền Paul Beau). Nhiệm vụ của trường là đào tạo y sĩ (chương trình học 4 năm) và dược sĩ phụ tá (chương trình 3 năm). Trong trường còn có lớp nữ hộ sinh bản xứ, học trong 2 năm.
4) Trường Cao đẳng Xây dựng dân dụng (Ecole supérieure du Génie Civil): được thành lập trên cơ sở Trường Công chính (ra đời năm 1902). Trường gồm 3 khoa: Cầu - Đường bộ, Đường sắt và Mỏ.
5) Trường Cao đẳng Văn khoa (Ecole supérieure des Lettres): dạy Ngôn ngữ và Văn học cổ điển phương Đông, Lịch sử và Địa lý các nước Viễn Đông, Lịch sử văn học Pháp và nước ngoài, Lịch sử triết học và Lịch sử nghệ thuật .
Cuối năm 1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut quyết định điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đại học Đông Dương. Bên cạnh các trường và ngành đào tạo đã có từ trước, Đại học Đông Dương dần mở thêm các ngành học mới: Y dược, Thú y, Thủy lâm, Sư phạm, Thương mại, Tài chính, Luật khoa hành chính và Mỹ thuật. Từ đó cho đến trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, Đại học Đông Dương từng bước mở rộng quy mô và cơ cấu tổ chức, bao gồm các trường thành viên: 1- Trường Luật và Pháp chính (Ecole de Droit et d’Administration), 2- Trường Hậu bổ ở Huế (Ecole d’Administration à Hué), 3- Trường Cao đẳng Thú y Đông Dương (Ecole Supérieure Vétérinaire de l’Indochine), 4- Trường Y dược Hà Nội (Ecole de Médecine de l’Hanoi), 5- Trường Cao đẳng Sư phạm (Ecole Supérieure de Pédagogie), 6- Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Dương (Ecole Supérieure d’Agriculture et de Sylviculture de l’Indochine), 7- Trường Công chính (Ecole des Travaux Publics), 8- Trường Thương mại Đông Dương (Ecole de Commerce de l’Indochine), 9- Trường Cao đẳng Thương mại thực hành ở Sài Gòn (Ecole d’Application
Commerciale de Saigon), 10- Trường Khoa học Thực hành (Ecole des Sciences Appliquées), 11- Trường Cao đẳng Văn khoa (Ecole Supérieure des Lettres), 12- Trường Mỹ thuật Đông Dương (Ecole des Beaux-Arts de l’Indochine), 13- Trường Cao đẳng Luật ở Hà Nội (Ecole Supérieure de Droit à Hanoi), Trường Chuyên nghiệp Nông lâm Đông Dương (Ecole Spéciale d’Agriculture et de Sylviculture en l’Indochine)… Đến năm 1941, mặc dù giáo dục Đông Dương bị gián đoạn với chính quốc bởi Thế chiến thứ hai, Đại học Đông Dương vẫn mở thêm Trường Kiến trúc . Cơ cấu tổ chức của Trường cơ bản được giữ như vậy cho đến năm 1945.
Đại học Đông Dương là mô hình “đại học liên hợp” kiểu Pháp, bao gồm nhiều trường thành viên với các lĩnh vực đào tạo khác nhau. Cấu trúc này cho thấy sự hiện diện đồng thời của cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn và khoa học ứng dụng, hình thành một hệ thống đào tạo tương đối toàn diện. Đây là khuôn mẫu điển hình của một đại học đa lĩnh vực theo chuẩn châu Âu đương thời. Không chỉ đa ngành về tổ chức, chương trình đào tạo của Đại học Đông Dương cũng thể hiện xu hướng liên thông và tích hợp tri thức. Các ngành khoa học tự nhiên cung cấp nền tảng cho y học và kỹ thuật, Luật học gắn với hành chính công và quản trị thuộc địa, Nhân văn học (ngôn ngữ, lịch sử) hỗ trợ nghiên cứu xã hội và văn hóa bản địa. Sự kết nối này cho thấy một bước chuyển quan trọng từ tư duy đào tạo phân tán sang tư duy hệ thống tri thức, trong đó các ngành không tồn tại biệt lập mà có quan hệ hỗ trợ nhau. Tính chất đa ngành của Đại học Đông Dương không chỉ là lựa chọn học thuật mà còn gắn với mục tiêu thực tiễn. Chính quyền thuộc địa cần một lực lượng nhân lực có trình độ trong nhiều lĩnh vực khác nhau, do vậy mô hình đào tạo đa ngành giúp đáp ứng yêu cầu quản trị xã hội thuộc địa, tạo ra đội ngũ tri thức có kiến thức tổng hợp, nhưng mặt khác cũng góp phần hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam hiện đại. Từ góc độ này có thể thấy tính đa ngành vừa mang tính công cụ chính trị, vừa tạo ra hệ quả xã hội sâu rộng ngoài dự kiến ban đầu.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định thành lập Đại học Quốc gia Việt Nam trên cơ sở kế thừa Đại học Đông Dương. Hai trong số những kế thừa quan trọng đó là duy trì vị thế của một đại học quốc gia và mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực. Ngày 5/11/1945, Đại học Quốc gia Việt Nam tổ chức lễ khai giảng đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và chủ trì buổi lễ. Cơ cấu tổ chức của Đại học Quốc gia Việt Nam ngay từ khi thành lập đã bao gồm nhiều trường Đại học: Y khoa, Dược khoa, Nha Khoa, Khoa học, Mỹ thuật và các trường Cao đẳng: Công chính, Canh nông, Thú y . Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 45/SL thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội, trực thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam, do ông Đặng Thai Mai phụ trách. Sắc lệnh này khẳng định quan điểm của chính phủ mới về sự cần thiết của việc đào tạo lĩnh vực văn khoa, nâng cao nền văn học Việt Nam cho xứng đáng với một nước tự do, độc lập và dần theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu sự ra đời của các ngành đào tạo Khoa học xã hội và Nhân văn dưới chế độ mới.
Sau Hiệp định Geneve (1954), miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội. Đồng thời, các trường đại học ở chiến khu và vùng tự do trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng lần lượt được chuyển về Thủ đô. Chính phủ tiến hành sắp xếp lại các đơn vị đào tạo đại học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước. Ngày 4/6/1956, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký Quyết định số 2183/CP thành lập 5 trường đại học và 15 trường trung học chuyên nghiệp. Trong số các trường đại học đầu tiên, Trường Đại học Bách Khoa chuyên đào tạo các ngành kỹ thuật và công nghệ, Trường Đại học Y - Dược đào tạo bác sĩ và dược sĩ cao cấp, Trường Đại học Sư phạm đào tạo giáo viên phổ thông, Trường Đại học Nông lâm đào tạo kỹ sư nông - lâm nghiệp, còn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội có nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu các lĩnh vực khoa học cơ bản, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chính thức thành lập, được kế thừa trực tiếp Đại học Quốc gia Việt Nam, từ cơ sở vật chất (trụ sở 19 Lê Thánh Tông), uy tín học thuật, đến truyền thống đào tạo và nghiên cứu.
Đại học Quốc gia Việt Nam và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trong giai đoạn 1945 - 1993 là thời kỳ định nghĩa lại về cấu trúc đa ngành, đa lĩnh vực, đồng thời chuyển đổi chức năng: Từ phục vụ bộ máy thuộc địa sang phục vụ xây dựng quốc gia, từ đào tạo tinh hoa hạn chế hướng tới đào tạo nguồn nhân lực rộng hơn. Tuy nhiên, do bối cảnh chiến tranh và điều kiện hạn chế, mô hình đa ngành trong giai đoạn này chưa được phát triển đầy đủ, hoặc ẩn mình trong khuôn khổ chuyên môn hóa.
Đến đầu những năm 1990, công cuộc phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải đẩy mạnh đổi mới giáo dục, nhất là giáo dục đại học. Trên thế giới, cuộc cách mạng tri thức và cách mạng công nghệ bùng nổ mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Tri thức và nguồn lực trí tuệ trở thành lợi thế cạnh tranh, sức mạnh phát triển mà Việt Nam dễ có lợi thế. Nhằm thực hiện công cuộc Đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chính phủ xác định phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Một quyết sách lớn mang tầm chiến lược được Đảng và Chính phủ đưa ra là tập trung đầu tư có trọng điểm về cơ chế, chính sách và nguồn lực để giáo dục đại học phát triển bứt phá, sớm tiếp cận trình độ khu vực và quốc tế. Ngày 10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã ký Nghị định số 97/ CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội.
Mục đích thành lập và vị thế của Đại học Quốc gia Hà Nội đã được quy định rõ trong Nghị định: “Là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành lớn của cả nước trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động theo quy chế riêng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” (Điều 2). Khi mới thành lập, Đại học Quốc gia Hà Nội bao gồm 4 trường thành viên: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Ngoại ngữ (Điều 4). Đại học Quốc gia Hà Nội được giao các nhiệm vụ chủ yếu: 1) Đào tạo chuyên gia các ngành khoa học và công nghệ thuộc các trình độ đại học, cao học và tiến sĩ; 2) Nghiên cứu khoa học và công nghệ gắn với giảng dạy, đào tạo, thông tin khoa học và triển khai các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống; 3) Hỗ trợ về học thuật cho một số trường đại học khác và một số trường cao đẳng ở các địa phương (Điều 3).
Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội không ngừng mở rộng về quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, trở thành đại học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, trình độ cao hàng đầu của cả nước và từng bước đạt trình độ khu vực, quốc tế. Theo số liệu thống kê cuối năm 2025, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay bao gồm 9 trường đại học và 5 viện nghiên cứu thành viên, 3 trường và 1 viện trực thuộc, cùng các đơn vị dịch vụ, phục vụ. Tổng số cán bộ cơ hữu của Đại học Quốc gia Hà Nội là 5.563, trong đó có 3.084 cán bộ khoa học. Quy mô đào tạo có 438 chương trình (gồm 162 chương trình đào tạo đại học, 160 chương trình thạc sĩ, 116 chương trình tiến sĩ), với gần 87.000 học viên các hệ (từ trung học phổ thông đến bậc học tiến sĩ).
Như vậy, xuất phát từ định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước, Đại học Quốc gia Hà Nội đã được thành lập và không ngừng phát triển theo mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao nhằm dẫn dắt hệ thống đại học của cả nước, phục vụ sự nghiệp Đổi mới và phát triển quốc gia. Đây chính là sự kế thừa, tiếp nối và nâng tầm một mô hình đại học tiên tiến ở Việt Nam. Sự ra đời của Đại học Quốc gia Hà Nội là bước ngoặt mang tính hệ thống, khi mô hình đa lĩnh vực được khôi phục ở cấp độ cao hơn. Khác với các giai đoạn trước, mô hình hiện nay có những đặc điểm nổi bật, như tính hệ thống cao, liên ngành và xuyên ngành, tự chủ và hội nhập quốc tế.
4. Định hướng liên ngành trong đào tạo và nghiên cứu Việt Nam
Ngay khi thiết lập chế độ đô hộ ở Việt Nam, chính quyền Pháp đã nhận thức được rằng để cai trị hiệu quả đòi hỏi phải có những hiểu biết toàn diện về đất nước, con người ở xứ thuộc địa. Việt Nam không chỉ là một vùng đất cần “khai hóa văn minh”, mà là một chỉnh thể phức hợp của một quốc gia: có lịch sử lâu dài, hệ thống văn hóa - tín ngưỡng đa dạng, cấu trúc xã hội đặc thù, điều kiện tự nhiên và tài nguyên phong phú… Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về Việt Nam tất yếu phải mang tính tổng thể, toàn diện. Đây chính là khởi nguồn cho sự hình thành của định hướng liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam.
Vào đầu thế kỷ XX, nền khoa học phương Tây và ở các xứ thuộc địa chủ yếu phát triển theo hướng chuyên ngành, tuy nhiên đã xuất hiện những yếu tố thúc đẩy xu thế tích hợp đa ngành và liên ngành. Nhu cầu giải quyết các vấn đề phức hợp của xã hội thuộc địa đã dẫn tới sự hình thành của ngành Đông phương học, trong đó có Việt Nam học. Bên cạnh những cơ quan nghiên cứu chuyên ngành (Nha Khí tượng Đông Dương, Nha Địa lý Đông Dương, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vi trùng Sài Gòn…), chính quyền thực dân cũng đồng thời thành lập các tổ chức nghiên cứu liên ngành, tiêu biểu là Viện Viễn Đông Bác cổ (École française d›Extrême-Orient - viết tắt là EFEO). EFEO (thành lập năm 1900) quy tụ các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực (khảo cổ học, ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, dân tộc học…), tạo nên một môi trường học thuật mang tính liên ngành rõ nét. Thời kỳ này đã xuất hiện những công trình nghiên cứu mang tính tích hợp liên ngành khá cao, tiêu biểu như: Le Tonkin (1890) của Émile Dumoutier, Le Culte des immortels en Annam (1925) của Léopold Cadière, Les paysans du delta tonkinois (1936) của Pierre Gourou, Introduction à la connaissance du peuple annamite (1936) của Paul Mus, hay nhiều công trình đăng tải trong Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient (BEFEO) của Viện Viễn Đông Bác cổ…
Xuất phát từ bối cảnh đó, Đại học Đông Dương ngay từ khi thành lập đã xác định rõ yêu cầu phải gắn kết với các tổ chức nghiên cứu. Nghị định số 1514a quy định: “Đại học Đông Dương phải gắn kết hoạt động với các viện nghiên cứu đã hoặc sẽ được thành lập tại thuộc địa” (Điều 3). Đây là sự khởi đầu của mô hình liên kết trường - viện, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đặc điểm này mang tính tiên phong, bởi ở thời điểm đầu thế kỷ XX, nhiều hệ thống giáo dục vẫn còn tách biệt hai chức năng đó. Hơn thế nữa, thực tế hoạt động của Đại học Đông Dương còn cho thấy một mô hình liên kết rộng hơn: Đại học - viện nghiên cứu - bộ máy hành chính. Trong đó, Viện Viễn Đông Bác cổ đóng vai trò trung tâm, không chỉ là nơi nghiên cứu mà còn là nguồn cung giảng viên và không gian sản xuất tri thức liên ngành. Tại đây, các học giả thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau đã kết hợp để cùng nghiên cứu về Việt Nam. Đây có thể được xem là hình thức Việt Nam học liên ngành sớm nhất ở trong nước.
Định hướng liên ngành của Đại học Đông Dương được thể hiện khá rõ qua ba đặc tính. 1- Tính tích hợp: Chương trình đào tạo không hoàn toàn phân mảnh, mà có sự giao thoa giữa các lĩnh vực. Bên cạnh các môn học chuyên ngành còn có các học phần mang tính liên ngành. 2- Tính hướng đích: Các giảng viên không chỉ là nhà giáo, mà còn là những nhà khoa học làm việc tại các cơ quan nghiên cứu hoặc công chức trong bộ máy hành chính. Cách tổ chức này giúp Nhà trường có thể tận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết với thực tiễn. 3- Tính ứng dụng: Hoạt động đào tạo và nghiên cứu hướng trực tiếp tới việc ban hành chính sách, giải quyết các vấn đề của xã hội, phục vụ công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa. Có thể thấy rằng, định hướng liên ngành trong các hoạt động đào tạo và nghiên cứu của Đại học Đông Dương giai đoạn này mang tính “công cụ” phục vụ chính quyền thực dân, nhưng dẫu sao nó cũng đặt nền móng cho định hướng liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam thời hiện đại.
Sự thành lập Đại học Quốc gia Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tái định nghĩa về liên ngành trong bối cảnh quốc gia độc lập. Việc tiếp quản hệ thống giáo dục cũ, phát triển theo yêu cầu của chính quyền mới đòi hỏi phải xác định lại mục tiêu của tri thức: Từ phục vụ chính quyền thuộc địa đến phụng sự quốc gia tự chủ, chuyển từ “hiểu để cai trị” sang “hiểu để xây dựng”. Điều này đã làm thay đổi bản chất của liên ngành, không còn là công cụ chính trị, mà là phương tiện phát triển.
Khi tổ chức lại Đại học Quốc gia Việt Nam trên cơ sở kế thừa Đại học Đông Dương, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập Ban Văn khoa bên cạnh các Ban khác thuộc những khối ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, y dược… Ban Văn khoa được thành lập đánh dấu sự ra đời của các khoa học xã hội và nhân văn hiện đại ở Việt Nam, đồng thời mở ra tiềm năng nghiên cứu đất nước học theo hướng tích hợp, liên ngành. Cũng trong khoảng thời gian ấy, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên được bổ nhiệm là Giám đốc đầu tiên của Đại học Quốc gia Việt Nam, kiêm Giám đốc Viện Viễn Đông Bác cổ. Với nền tảng học thuật và kinh nghiệm nghiên cứu, Nguyễn Văn Huyên đã đưa vào hệ thống mới một tư duy liên ngành sâu sắc, đặc biệt trong nghiên cứu văn hóa và xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh chiến tranh sau đó đã khiến định hướng này chưa thể phát triển thành một thể chế hoàn chỉnh.
Sự ra đời của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956) là bước kế thừa và tiếp tục phát triển xu hướng liên ngành trong nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam, nhưng biểu hiện bằng một trạng thái mới. Đó là liên ngành trong cấu trúc chuyên môn hóa. Điều này xuất phát từ một nghịch lý là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đó chịu ảnh hưởng của mô hình đại học Xô Viết - nhấn mạnh tính chuyên môn hóa, phân ngành rõ rệt. Trong khi đó, nghiên cứu Việt Nam để giải quyết yêu cầu thực tiễn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước lại đòi hỏi tính liên ngành. Dù không phải định hướng chính, liên ngành vẫn tồn tại. Điều này phần nào được thể hiện qua tên gọi của Trường - tổng hợp giữa các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn, trong cấu trúc chương trình đào tạo, các đề tài khoa học có sự phối hợp của nhiều ngành, và nhất là việc thành lập các trung tâm nghiên cứu có tính liên ngành cao. Đó là Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (thành lập ngày 15/11/1985), Trung tâm Hợp tác nghiên cứu Việt Nam (thành lập ngày 17/5/1989). Nhìn lại bối cảnh lúc đó, đây là những quyết định lịch sử, bởi nó nâng tầm sáng kiến của một trường đại học lên tầm vóc quốc gia, chính thức khai sinh những tổ chức khoa học nghiên cứu liên ngành đầu tiên về Việt Nam, đóng vai trò cầu nối học thuật giữa giới nghiên cứu Việt Nam ở trong nước và quốc tế. Các trung tâm nghiên cứu liên ngành tồn tại trong Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tạo ra không gian cho các nghiên cứu tích hợp, đa ngành. Giai đoạn này cho thấy, khuynh hướng liên ngành không biến mất, mà “ẩn mình” trong cấu trúc chuyên ngành, tồn tại nhưng chưa trở thành định hướng chiến lược. Dù vậy, đó là tiền đề quan trọng cho giai đoạn phát mạnh mẽ về sau.
Khi Đại học Quốc gia Hà Nội ra đời cũng là thời điểm liên ngành được nâng cấp, thể chế hóa và trở thành chiến lược phát triển. Đại học Quốc gia Hà Nội xác định rõ mục tiêu: Phát triển đại học đa ngành, đa lĩnh vực và khai thác sức mạnh liên ngành để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước, thực hiện sứ mệnh và trọng trách “quốc gia”. Liên ngành trở thành nguyên lý tổ chức của đại học.
Chủ trương khẳng định tầm quan trọng và thể chế hóa định hướng liên ngành của Đại học Quốc gia Hà Nội được biểu hiện qua nhiều quyết sách và mang tính xuyên suốt. Bên cạnh việc xây dựng và phát triển cấu trúc đại học, thiết kế chương trình đào tạo, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trương thành lập, nâng cấp các trung tâm và viện nghiên cứu liên ngành.
Trên cơ sở Trung tâm Hợp tác nghiên cứu Việt Nam thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ngày 27/10/1995, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định tổ chức lại thành Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa. Từ nền tảng đó, ngày 19/3/2004, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định nâng cấp thành Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Trên cơ sở sắp xếp lại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trung tâm Rừng ngập mặn của Trường Đại học Sư phạm, ngày 5/8/1995, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã ký Quyết định thành lập Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường. Đến ngày 17/11/2016, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Viện Tài nguyên và Môi trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Năm 1998, từ đề xuất của Trung tâm Hợp tác nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chủ trì, phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất. Sau các kỳ hội thảo được tổ chức thành công, gây tiếng vang lớn trong cộng đồng nghiên cứu ở trong nước và quốc tế, trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp Đổi mới và phát triển đất nước, Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 7 được tổ chức ngày 25/10/2025, tại Hà Nội. Đây được đánh giá là một trong những kỳ Hội thảo thành công nhất từ trước đến nay, xét cả về quy mô, chất lượng, phương thức tổ chức, đóng góp về khoa học và thực tiễn… Hội thảo quy tụ hơn 1.200 nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đến từ hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với 950 báo cáo tham luận. Chủ đề của Hội thảo - Việt Nam: Phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới - mang tính thời sự, thực tiễn và liên ngành cao. Các Tiểu ban chuyên môn (Hội thảo chuyên đề) tập trung thảo luận những vấn đề lớn, cấp bách đặt ra trong bối cảnh phát triển mới của đất nước: Nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học; Ngoại giao và hợp tác quốc tế; Động lực tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam; Quản trị Quốc gia; Văn hóa, dân tộc và tôn giáo; Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững; Giáo dục, đào tạo và phát triển con người Việt Nam. Hội thảo quốc tế Việt Nam học có thể được xem là một mô hình liên ngành tiêu biểu, kết nối giới học giả trong nước và quốc tế thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau cùng nghiên cứu về Việt Nam, đưa tới những nhận thức tổng thể về Việt Nam và qua đó góp phần phát triển bền vững Việt Nam.
Bối cảnh Đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện nay đang đặt ra yêu cầu mới: liên ngành phải gắn với chính sách và phục vụ phát triển. Nhiều vấn đề lớn như biến đổi khí hậu, quản trị quốc gia, phát triển bền vững, phát huy nguồn lực nhân văn… đều mang tính liên ngành cao. Điều này đòi hỏi, đại học phải trở thành trung tâm tri thức tích hợp, không chỉ đào tạo và nghiên cứu, mà còn tư vấn chính sách phục vụ phát triển đất nước. Giải quyết yêu cầu đó là một trong những mục tiêu trọng tâm đã được xác định trong chiến lược phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội: “Vận hành như một tập đoàn tri thức, sở hữu các trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, tư vấn chính sách hàng đầu quốc gia và khu vực”.
Những phân tích trên đây về lịch sử phát triển của định hướng liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam cho thấy một quá trình liên tục nhưng biến đổi sâu sắc. Khởi nguồn từ Đại học Đông Dương, được tái định nghĩa trong bối cảnh quốc gia độc lập (Đại học Quốc gia Việt Nam), tồn tại tiềm ẩn trong giai đoạn chuyên môn hóa thời Đại học Tổng hợp Hà Nội, để rồi được thể chế hóa ở trình độ cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Liên ngành không chỉ là một phương pháp nghiên cứu, mà là một logic phát triển nội tại của các khoa học nghiên cứu về Việt Nam. Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay là bước phát triển ở trình độ cao của một truyền thống liên ngành đã được hình thành hơn một thế kỷ trước, đồng thời phản ánh xu thế tất yếu của giáo dục đại học trong kỷ nguyên tri thức.
5. Một vài kết luận
Từ góc nhìn lịch sử - thể chế, những phân tích trên đây đã cho thấy mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực và định hướng liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của thời kỳ hiện đại, mà được khởi nguồn từ sự ra đời của Đại học Đông Dương năm 1906. Với tư cách là thiết chế đại học hiện đại đầu tiên ở Việt Nam, Đại học Đông Dương đã đặt nền móng cho một cấu trúc đào tạo và nghiên cứu mang tính tích hợp, trong đó các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học ứng dụng được tổ chức trong một chỉnh thể tương đối thống nhất. Dù được thiết lập nhằm phục vụ mục tiêu cai trị thuộc địa, mô hình này đã tạo ra những tiền đề học thuật quan trọng vượt ra ngoài ý đồ ban đầu, góp phần hình thành một không gian tri thức mới và một tầng lớp trí thức hiện đại ở Việt Nam.
Trải qua những biến động lớn của lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, từ sự thành lập Đại học Quốc gia Việt Nam, đến giai đoạn chuyên môn hóa dưới mô hình Đại học Tổng hợp Hà Nội, và sự tái cấu trúc trong bối cảnh Đổi mới với Đại học Quốc gia Hà Nội, mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực không bị đứt gãy mà liên tục được điều chỉnh, thích ứng và nâng cấp. Có thể nhận diện một tiến trình phát triển theo ba cấp độ: (i) Giai đoạn hình thành với tính đa ngành sơ khai, gắn với mục tiêu thực dụng của chính quyền thuộc địa; (ii) Giai đoạn phân hóa, khi các lĩnh vực được chuyên môn hóa mạnh mẽ nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng đất nước trong điều kiện chiến tranh và kế hoạch hóa; và (iii) Giai đoạn tái tích hợp, trong đó mô hình đa lĩnh vực được phục hồi ở trình độ cao hơn, hướng tới liên ngành và xuyên ngành trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Tiến trình này phản ánh rõ tính biện chứng của sự phát triển: từ tích hợp đến phân hóa và trở lại tích hợp ở một trình độ mới.
Nghiên cứu cũng đã chỉ rõ sự chuyển hóa về bản chất và chức năng của định hướng liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam. Nếu trong bối cảnh thuộc địa, liên ngành chủ yếu mang tính công cụ nhằm phục vụ quản trị và khai thác, thì trong giai đoạn quốc gia độc lập, nó dần được tái định nghĩa như một phương thức nhận thức và giải quyết các vấn đề phát triển. Đến giai đoạn hiện nay, liên ngành không chỉ là một phương pháp nghiên cứu, mà đã trở thành một nguyên lý tổ chức của đại học hiện đại, gắn với yêu cầu giải quyết các vấn đề phức hợp như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, quản trị quốc gia, phát huy nguồn lực con người… Sự thể chế hóa liên ngành thông qua các mô hình đại học đa lĩnh vực, các chương trình đào tạo tích hợp và các thiết chế nghiên cứu liên ngành cho thấy một bước chuyển căn bản từ “tri thức phân mảnh” sang “tri thức tích hợp”.
Trong bối cảnh đó, Đại học Quốc gia Hà Nội nổi lên như một trường hợp tiêu biểu của sự kế thừa và phát triển mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Việt Nam. Không chỉ tiếp nối truyền thống lịch sử từ Đại học Đông Dương và Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội còn đóng vai trò tiên phong trong việc thể chế hóa liên ngành ở trình độ cao, thông qua việc xây dựng cấu trúc đại học tích hợp, phát triển các viện và trung tâm nghiên cứu liên ngành, cũng như thúc đẩy gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và tư vấn chính sách. Điều này cho thấy mô hình đại học đa lĩnh vực không chỉ là một lựa chọn tổ chức, mà là một chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại mới.
Từ những phân tích trên đây có thể khẳng định rằng sự phát triển của nghiên cứu Việt Nam gắn liền với tiến trình tích hợp tri thức và thể chế hóa liên ngành trong hệ thống đại học. Mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực không chỉ được kế thừa mà còn được tái cấu trúc và nâng cấp qua các giai đoạn lịch sử, phản ánh sự thích ứng linh hoạt với những biến đổi của bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội. Trong kỷ nguyên tri thức và toàn cầu hóa, việc tiếp tục phát huy và hoàn thiện mô hình này, theo hướng tăng cường liên ngành, xuyên ngành và gắn kết với thực tiễn phát triển, sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và đóng góp của khoa học Việt Nam đối với sự phát triển bền vững của đất nước.