VNU Logo
Thư viện sốVNU OfficeE-mailIT ServicesSitemap
  • Logo
  • Giới thiệu
    • Tổng quan
      • Lịch sử
      • Sứ mạng - Tầm nhìn
      • Chiến lược phát triển
      • Thi đua - Khen thưởng
      • Số liệu thống kê
      • Bản đồ Hà Nội
      • Các cơ sở của ĐHQGHN
      • Website kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN
    • Cơ cấu tổ chức
      • Sơ đồ tổ chức
      • Ban Giám đốc
      • Đảng ủy
      • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
      • Văn phòng & ban chức năng
      • Công đoàn ĐHQGHN
      • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
      • Các trường đại học thành viên
      • Các trường thuộc
      • Các đơn vị nghiên cứu khoa học
      • Các trung tâm đào tạo môn chung
      • Các đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
      • Văn bản pháp quy
      • Thủ tục hành chính trực tuyến
    • Ba công khai
      • Chất lượng đào tạo
      • Cơ sở vật chất
      • Tài chính
      • Số liệu tổng hợp
    • Báo cáo thường niên ĐHQGHN
    • Ấn phẩm Giới thiệu ĐHQGHN
    • Video
    • Logo ĐHQGHN
    • Bài hát truyền thống
    • Tiến sĩ danh dự của ĐHQGHN
  • Đào tạo
    • Giới thiệu chung
    • Kế hoạch học tập và giảng dạy
    • Chương trình đào tạo bậc đại học
    • Chương trình đào tạo thạc sĩ
    • Chương trình đào tạo tiến sĩ
    • Chương trình đào tạo liên kết
    • Đào tạo hệ THCS và THPT
    • Số liệu thống kê
    • Mẫu văn bằng
    • Văn bản liên quan
  • Khoa học công nghệ
    • Giới thiệu chung
    • Hoạt động Khoa học - Công nghệ
    • Chiến lược KHCN&ĐMST 2021-2030
    • Chương trình, dự án, đề tài
      • Chương trình KHCN cấp Nhà nước
      • Đề tài cấp Nhà nước
      • Chương trình KHCN cấp ĐHQGHN
      • Đề tài cấp ĐHQGHN
      • Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
      • Nghiên cứu ứng dụng
    • Hệ thống phòng thí nghiệm
    • Nhóm nghiên cứu
    • Các hội đồng chuyên môn
    • Quỹ phát triển khoa học & công nghệ
      • Giới thiệu
      • Điều lệ, tổ chức hoạt động
    • Giải thưởng Khoa học - Công nghệ
      • Giải thưởng Hồ Chí Minh
      • Giải thưởng Nhà nước
      • Giải thưởng quốc tế
      • Giải thưởng ĐHQGHN
      • Giải thưởng khoa học sinh viên
      • Các giải thưởng khác
    • Các sản phẩm KHCN
      • Các ấn phẩm
      • Sở hữu trí tuệ
      • Các sản phẩm công nghệ, kỹ thuật
      • Bài báo khoa học
    • Chuyển giao tri thức & hỗ trợ khởi nghiệp
    • Văn bản liên quan
  • Hợp tác & phát triển
    • Giới thiệu chung
      • Lời giới thiệu
      • Đội ngũ
      • Bản tin hợp tác phát triển - PDF
    • Hợp tác quốc tế
      • Đối tác quốc tế
        • Châu Á
        • Châu Âu
        • Châu Đại dương
        • Châu Mỹ
      • Chương trình hợp tác
        • Trao đổi & học bổng
        • Hợp tác nghiên cứu
        • Hội nghị - Hội thảo
      • Mạng lưới hợp tác quốc tế
        • AUF
        • AUN
        • ASAIHL
        • BESETOHA
        • CONFRASIE
        • UMAP
        • SATU
      • Các thỏa thuận hợp tác quốc tế
    • Hợp tác trong nước
      • Các đối tác trong nước
      • Các dự án trong nước
        • Danh mục các nhiệm vụ KHCN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương
        • Trường ĐH Khoa học Tự nhiên
        • Trường ĐH Công nghệ
        • Trường ĐH Kinh tế
        • Viện Việt Nam học và KHPT
        • Viện Vi sinh vật và CNSH
    • Văn bản quản lý
      • Văn bản liên quan
      • Sổ tay Hợp tác quốc tế
  • Sinh viên
    • Giới thiệu chung
    • Học bổng
      • Trong nước
      • Ngoài nước
      • Quy định
      • Tin tức
      • Đăng ký học bổng
    • Hỗ trợ sinh viên
      • Đoàn - Hội
      • Đời sống
      • Các câu lạc bộ
      • Tư vấn, hỗ trợ việc làm
      • Vay vốn
      • Ký túc xá sinh viên
    • Chương trình trao đổi sinh viên
    • Cựu sinh viên
    • Văn bản - Biểu mẫu
  • Cán bộ
    • Giới thiệu chung
    • Số liệu thống kê
      • Theo đối tượng, vị trí việc làm
      • Theo chức danh khoa học và trình độ đào tạo
    • Danh hiệu nhà giáo
      • Nhà giáo Nhân dân
      • Nhà giáo Ưu tú
    • Đội ngũ GS, PGS
      • Các Giáo sư
      • Các Phó giáo sư
    • Tuyển dụng
      • Kênh thu hút nhà khoa học
      • Ứng tuyển & hợp tác
      • Vị trí tuyển dụng
      • Thông tin hữu ích
      • Liên hệ, đề xuất
    • Văn bản liên quan
  • Các đơn vị thành viên
    • Trường đại học thành viên
      • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
      • Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
      • Trường Đại học Ngoại ngữ
      • Trường Đại học Công nghệ
      • Trường Đại học Kinh tế
      • Trường Đại học Giáo dục
      • Trường Đại học Việt Nhật
      • Trường Đại học Y Dược
      • Trường Đại học Luật
    • Trường trực thuộc
      • Trường Quản trị và Kinh doanh
      • Trường Quốc tế
      • Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật
    • Viện nghiên cứu
      • Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
      • Viện Tài nguyên và Môi trường
      • Viện Công nghệ thông tin
      • Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
      • Viện Trần Nhân Tông
      • Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo
        • Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến
        • Viện Nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển bền vững
        • Viện Công nghệ Lượng tử
        • Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ trợ khởi nghiệp
        • Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực
        • Trung tâm hỗ trợ sinh viên
    • Trung tâm đào tạo trực thuộc
      • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
      • Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao
    • Đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Ban Quản lý dự án
      • Ban Quản lý Dự án World Bank
      • Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục
      • Trung tâm Quản lý đô thị đại học
      • Trung tâm Thư viện và Tri thức số
      • Tạp chí Khoa học
      • Viện Đào tạo số và Khảo thí
    • Đơn vị khác
      • Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á
      • Văn phòng Hợp tác ĐHQGHN - ĐH Arizona
      • Văn phòng các chương trình KH&CN trọng điểm ĐHQGHN
      • Quỹ Phát triển KH&CN
      • Quỹ Phát triển ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Cựu sinh viên
VNU Logo

Giấy phép số 993/GP-TTĐT ngày 20/3/2020 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Khu đô thị Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hòa Lạc, Hà Nội

 media@vnu.edu.vn

 

Thứ năm14-05-2026
|120 năm truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (1906-2016)Hội thảo "Từ đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội: Truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa"

Đại học Đông Dương: Tầm nhìn 120 năm

1. Đại học Đông Dương: Sự kiện cải cách giáo dục tiêu biểu của các khuynh hướng chính trị thực dân đầu thế kỷ XX

Về mặt lịch sử, cho đến ngày hôm nay, không chỉ ở Pháp mà ở Việt Nam, những trang sử về hiện tượng giáo dục đặc biệt này thời thuộc địa đã được nghiên cứu, giới thiệu, trao đổi khá tường tận về cuốn sử “Trường Đại học duy nhất” ở xứ Đông Dương thuộc địa này. Dưới đây chúng tôi xin góp thêm một số ý kiến về lịch sử của nó, cố gắng bám sát vào tầm nhìn 120 năm.

Thứ nhất, khi nói đến thời điểm và điều kiện xuất hiện Đại học Đông Dương hay còn gọi là Đại học Hà Nội năm 1906, các nhà sử học nước ta phần lớn thiên về sự chuyển biến trong chủ trương, chính sách thuộc địa, nhất là về văn hóa giáo dục của chính quyền thuộc địa ở Việt Nam. Chẳng hạn, người ta có thể dễ dàng ghi nhận vai trò quan trọng của Toàn quyền Paul Doumer (1898-1902) trong việc xây dựng các cơ sở hạ tầng Bắc Kỳ, nhất là ở Hà Nội; nhưng Doumer ít quan tâm đến xây dựng các cơ sở xã hội về văn hóa giáo dục.

Số phận của Đại học Đông Dương lại được gắn với Toàn quyền Paul Beau (1903-1908) và nhất là Toàn quyền Albert Sarraut sau này. Quyết định có ý nghĩa nhất của Toàn quyền Paul Beau trong suốt nhiệm kỳ đầy khó khăn của ông ta là việc ra quyết định thành lập Đại học Đông Dương ngày 16-5-1906 với mục đích “Thông qua tiếng Pháp để phổ biến kiến thức khoa học và phương pháp nghiên cứu của người Châu Âu ở Viễn Đông” (Nghị định số 1514a).

Chắc hẳn Toàn quyền Beau đã có được ý kiến tốt của Hội đồng Quản trị điều hành nên Bản Nghị định nói trên chứa đựng những ý tưởng vượt trội về việc thiết kế cấu trúc “Đại học Đông Dương” gần như hoàn toàn theo mô hình Pháp, trong đó ngay từ đầu đã có 5 trường thành viên (Corpus) của các trường Universite phương Tây: Trường Luật và Pháp chính; Khoa học Thực hành, Y khoa Đông Dương; Xây dựng dân dụng và cuối cùng là Văn khoa....

Hơn thế nữa, ngay khi Đại học Đông Dương khai giảng ngày 1-111907 đã có mặt khá đầy đủ các môn học có tính hiện đại: Toán, Cơ học, Thiên văn học, Vật lý, Hóa đại cương cùng hàng loạt chuyên ngành khác của Khoa học Tự nhiên. Riêng về các chuyên ngành Khoa học Xã hội, dĩ nhiên đều học bằng tiếng Pháp, đã có: Văn học Pháp, Lịch sử, Địa lý đại cương, Triết học, Luật nước Pháp; đặc biệt cũng đã có mặt các môn gần gũi với tri thức về Việt Nam học và Khu vực học: Pháp luật và Thể chế chính trị An Nam; Giáo dục đại cương và giáo dục thực hành.

Ngay năm 1908, các môn học liên quan đến Việt Nam và Đông Dương thuộc Ban Văn học và Ban Luật đã có thêm Lịch sử Đông Dương và Viễn Đông; Luật Thương mại và Tổ chức hành chính Đông Dương...

Chúng ta có thể dễ dàng thừa nhận rằng Đại học Đông Dương ra đời là kết quả trực tiếp của hai cuộc cải cách giáo dục dưới thời Paul Beau và Albert Sarraut (1917). Những sự kiện này đủ xứng đáng để được ghi nhận dấu mốc lịch sử nói trên của Đại học Đông Dương.

Tuy vậy vấn đề Đại học Đông Dương theo chúng tôi cần được mở rộng thêm với hai chiều kích khác. Thứ nhất, vấn đề lớn của bản thân nước Pháp và trong chừng mực nào đó ngay ở một số thuộc địa của họ đầu thế kỷ XX là vấn đề Tính hiện đại (modernity). Chúng tôi cũng đã nói về điều này trong mối liên hệ với sự chuyển đổi chính sách của chế độ thuộc địa ở Đông Dương đầu thế kỷ XX:

“Áp dụng lý thuyết về Tính hiện đại (modernity), phần này làm rõ những nội dung phổ biến, sự chuyển biến của nó trong các xã hội ÂuMỹ, cũng như sự lan tỏa sang các xã hội châu Á lúc đó. Nếu như trong các xã hội phương Tây, việc khẳng định tính hiện đại luôn luôn “được tạo nên từ sự đối thoại giữa Lý trí và Chủ thể” hoặc “hạt nhân của tính hiện đại là khoa học và công nghệ” hay “là sự kết hợp hài hòa giữa tính cá thể, thành tựu khoa học kỹ thuật và các nhóm cộng đồng” thì trong các xã hội châu Á vào cuối thế kỷ XIX, người ta bắt đầu cuộc “hành trình” đó bằng những cuộc cải cách vận động chấn hưng dân trí, dân khí, bắt đầu bằng việc có chấp nhận hay không xu hướng “canh tân đất nước”. Bước vào đầu thế kỷ XX, khi những yếu tố của chủ nghĩa tư bản đã lộ rõ trong nhiều không gian xã hội, dù là thuộc địa hay nửa thuộc địa, cũng tất yếu diễn ra quá trình chuyển đổi mô hình văn hóa, thiết chế văn hóa cũng như sự xuất hiện các loại hình văn hóa mới theo kiểu phương Tây”. 

Thứ hai, có hai xu hướng trong chính sách thuộc địa của Thực dân Pháp ở Việt Nam hay rộng hơn là cả Đông Dương; đó là sự lựa chọn giữa: nên thực thi chính sách Đồng hóa (như ở Algeria) hay chính sách Hợp tác (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đầu thế kỷ XX) bên cạnh các chính sách quan trọng khác như: chia để trị. Đầu thế kỷ XX, vấn đề này đã trở nên gay gắt ở Bắc và Trung Kỳ - khi mà sau sự thắng trận của Nhật Bản sau Chiến tranh Nga - Nhật (1905), đặc biệt vào năm 1906, Phan Bội Châu và Duy Tân Hội đã hướng tới Nhật Bản, gửi tới trên 200 lưu học sinh Việt Nam sang Nhật du học. Điều này tác động không nhỏ đến việc Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ vào tháng 4 năm 1906 đã đề xuất: “Thiết lập tại Đông Dương dưới tên gọi Đại học (Université) một Khóa giảng dạy bậc cao dành cho sinh viên thuộc địa và những nước lân cận. Mục đích của cơ sở giáo dục này là phổ biến ở Vùng Viễn Đông, thông qua Pháp ngữ những kiến thức Khoa học và phương pháp Châu Âu. Đại học này đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương.” 

Gần 10 năm kể từ sau ngày khai giảng Khóa đầu tiên (1917), chính Toàn quyền Albert Sarraut còn nhấn mạnh rằng: “Đại học Đông Dương không chỉ thay thế cho giáo dục bậc cao trong hệ thống giáo dục truyền thống ở xứ An Nam mà còn để đào tạo những tinh hoa ưu tú bản địa phục vụ cho đường lối “Pháp - Việt hợp tác” hay “Pháp - Việt đề huề”. (Phạm Quỳnh) Có nghĩa là đây cũng là giải pháp chính trị khôn khéo để xoa dịu bất bình của người An Nam ...

Cần nói thêm rằng xu hướng “chính sách hợp tác” dần đã thắng thế rõ rệt ở Bắc và Trung Kỳ với các nhân vật Toàn quyền như Paul Bert, De Lanessan, Albert Sarraut, Varenne... Những tên tuổi gắn chặt với lịch sử chìm nổi của Đại học Đông Dương.

Tất nhiên cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng này chưa chấm dứt, điều này thể hiện rất sinh động qua lịch sử thăng trầm của Đại học Đông Dương. Tư liệu tiếng Pháp cho thấy, ngay từ khi Đại học Đông Dương mới ra đời (1906) sớm đã hứng chịu rất nhiều dư luận chính luận từ chính quốc đến xứ Đông Dương. Nếu như Khóa đầu tiên khai giảng vào năm 1907 thì một năm sau vào đầu năm 1908 đã buộc phải đóng cửa dưới thời Toàn quyền Klobukowsky, con rể của Paul Bert vì lý do “chưa chín muồi”. Phái đối lập trong chính quyền thực dân cho rằng số sinh viên suy giảm, chi phí tài chính của Chính phủ Pháp quá cao so với hiệu quả ....”

Giờ đây nhìn lại chúng ta có thể hiểu được rằng dư luận của phái đối lập cũng khiến cho giới thực dân chóp bu ở Đông Dương cũng giống như Paul Beau đã ngại mạo hiểm về chính trị.... Mặt khác, Đại học Đông Dương khi mở lại dưới thời Albert Sarraut đã phát triển mạnh mẽ nhưng lại vấp phải khó khăn khác, khi số lượng sinh viên tìm đường sang Pháp và các nước khác để tiếp tục hoạt động thì lại mở ra tình huống “Con đường đến nước Pháp là con đường chống lại nước Pháp”.

Chính vì thế lại thêm một lý do: “Đại học Đông Dương chỉ là cái mặt tiền dùng để đánh lừa dư luận nước Pháp.” (L’Universite indochinoise n’est qu’une facade destinee à tromper l’opinion publique metropolitaine).

2. Đại học Đông Dương - Tầm nhìn 120 năm trong con mắt của người Việt Nam

2.1. Nhắc lại một số ý kiến, “Tầm nhìn 100 năm” về Đại học Đông Dương

Trong dịp này, Ở Pháp có xuất bản cuốn sách Le Vietnam, Une histoire de transferts culturels (Hoai Huong Aubert-Nguyen và Michel Espagne chủ biên) NXB Demopolis, Paris, 2015. Trong cuốn sách này có bài của Hoàng Văn Tuấn “Đại học Đông Dương và hoạt động văn hóa của Pháp tại Việt Nam”. (trang 151-167) Sau khi trình bày tóm lược sự ra đời và phát triển giáo dục Đại học Pháp tại Việt Nam từ 1902 - 1945, trong đó tác giả chú ý các mốc thành lập các trường đại học và các trường thuộc hệ thống giáo dục cao đẳng (thực chất là thuộc phạm vi của hai thuật ngữ giáo dục quen thuộc của người Pháp). Đó là Universite và Enseignement Superieur với những con số về số lượng sinh viên từ năm 1918 - 1919 đến 1943 - 1944.

Tác giả cho rằng, với người Việt Nam, “giáo dục trở thành một phương tiện để chinh phục tinh thần của họ”. Tất nhiên cũng là thời điểm giải quyết dứt điểm trước thời kỳ thuộc địa ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa tại Việt Nam. Mặt khác, tác giả diễn giải theo hướng, đối với chính quyền Pháp “Việc truyền bá văn hóa Pháp là một nhiệm vụ quan trọng và liên tục của giáo dục, nhất là giáo dục đại học”. Quan điểm trên được tác giả chú dẫn từ ý kiến của Paul Doumer, Henri Gourdon, Albert Sarraut và đặc biệt là của Trịnh Văn Thảo, khi nhà nghiên cứu tên tuổi này một lần nữa nhắc lại quan điểm nổi tiếng của Jules Ferry (1884): “cung cấp cho thuộc địa nguồn nhân lực tương xứng với sự phát triển kinh tế - văn hóa và đồng thời biến Đông Dương trở thành một hình mẫu của Pháp ở Châu Á...”

Như vậy là, có vẻ như tác giả chú trọng mục tiêu của chính sách giáo dục nói chung của thực dân Pháp ở Việt Nam (ít nhất ở Bắc và Trung Kỳ) cũng như sự đón nhận của người Việt đối với hệ thống giáo dục này. Tuy vậy, tác giả cũng dẫn lại một cách cần thiết đánh giá của Maurice Cognacq, Giám đốc Giáo dục Liên bang Đông Dương quan điểm của ông ta đối với chính quốc: “Chúng tôi không mong muốn tạo ra những nhà khoa học trong phòng thí nghiệm hay những người kiến tạo nên những điều không tưởng - Đại học Đông Dương, được hình thành dựa trên mô hình tương tự như các trường đại học anh em lân cận ở Viễn Đông, nhưng được nuôi dưỡng bởi nguồn sữa dồi dào hơn của khoa học Pháp, người mẹ mạnh mẽ và nhân từ của sự tiến bộ nhân loại, sẽ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ đầy hiệu quả là xây dựng nên một Đông Dương thịnh vượng và khai sáng cho cuộc đấu tranh toàn cầu. Hiện tại chỉ cần cung cấp cho giới trẻ kiến thức và kỹ năng chuyên môn để họ trở thành những công cụ lao động xuất sắc; sau này những người kế nhiệm chúng ta sẽ có thể hướng tới những khát vọng vị tha hơn của một tầng lớp tinh hoa đã được chuyển đổi sang những nhu cầu khác cấp thiết hơn. Chính vào thời điểm đó, theo định nghĩa của Tổng thống nước Đồng Minh vĩ đại Wilson, trường đại học sẽ biến những thanh niên mà nó chào đón thành “hơn cả những thương gia và chuyên gia lành nghề” - Thời điểm đó chưa đến với những dân tộc phải chinh phục, với sức mạnh to lớn và vị trí của họ trong thị trường rộng lớn của thế giới, những khuynh hướng quá rõ rệt hướng tới tinh thần đầu cơ thường làm gãy đổ động lực hành động.  

Quả thực, không chỉ trong nội bộ chính quyền thực dân ở thuộc địa và chính quốc vẫn tồn tại các quan điểm đối lập về Đại học Đông Dương và thực thi mô hình giáo dục Pháp hoàn chỉnh ở Đông Dương nói chung mà thái độ của báo chí cũng như của người Việt đan xen, bộc lộ rất rõ những khuynh hướng khác biệt như thế về đại học này.

Ở thời điểm người Pháp bãi bỏ nền giáo dục Nho giáo ở Bắc và Trung Kỳ, thì dù sao giới trí thức trẻ ở nước ta lúc đó cũng đón nhận nền giáo dục mới này rất hồ hởi, nhiệt huyết với những tri thức và phương pháp giảng dạy mới. Tuy vậy, những tờ báo quan trọng ở Bắc Kỳ mặc dù không phải lúc nào cũng tán đồng về mô hình và phương pháp của Đại học Đông Dương, như Phạm Quỳnh, luôn khuyên giới trẻ Việt Nam tận dụng thời gian tối đa dù rằng Đại học Đông Dương chỉ là nơi đào tạo “các kỹ thuật viên lành nghề” chứ chưa phải là “một tòa lâu đài hàn lâm” giống như ở Paris để đào tạo các học giả.

Mặt khác, Phạm Quỳnh vẫn lưu ý rằng “đối với thế hệ trẻ xứ An Nam thì việc quan trọng và cấp bách nhất vẫn là việc dạy cho họ những nghề nghiệp hữu ích”. Quả thực, số phận chìm nổi của Đại học Đông Dương còn in dấu trong dư luận thuộc địa ở Hà Nội. Báo Đông Pháp năm 1926 vẫn có những bài viết về sự hạn chế của sinh viên Đại học Đông Dương: “Trường Đại học đó chẳng qua là sự họp lại mấy trường chuyên môn tương tự như những trường dạy Canh nông, Cơ khí, Thương mại... chứ không phải như Đại học Sorbonne, hoặc như Đại học Montpellier, Nancy...” {Sự giả trá của Trường Đại học Đông Pháp, 26-4-1926} Đây cũng là thời điểm trong chu kỳ thử thách khi chính quốc hạn chế kinh phí đầu tư hoạt động của nhà trường, thiếu nguồn nhân lực, kể cả giảng viên cũng như sinh viên.

Vẫn theo Hoàng Văn Tuấn, ảnh hưởng của Đại học Đông Dương đối với người Việt Nam lúc đó chủ yếu trên phạm vi văn hóa Việt Nam nói chung, trước hết là khu vực Văn học và Mỹ thuật. Từ Phong trào Thơ Mới những năm 1930 đến sự xuất hiện những tên tuổi nghệ thuật hiện đại Việt Nam như Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ.... mà những tác phẩm của họ bước đầu đã chinh phục được những người thưởng thức nghệ thuật khó tính ở châu Âu trong các cuộc Triển lãm Thuộc địa quốc tế ở Paris 1931, Roma 1932 hoặc ở Ý 1934, Nhật Bản 1940...

Nhận xét này là sự khẳng định khá quen thuộc với giới nghiên cứu ở Việt Nam.

2.2. Phải chăng Đại học Đông Dương là một “Công cụ đổi mới tầng lớp tinh hoa và văn hóa Việt Nam”?

Ý kiến này của Hoàng Văn Tuấn dựa trên những tiền đề luận lý mà chính tác giả đưa ra:

a) Chính quyền thuộc địa Pháp “đã hiểu đầy đủ về vai trò quan trọng của tầng lớp ưu tú và đã thực hiện hệ thống đào tạo mới chịu ảnh hưởng bởi kiến thức và ý tưởng của phương Tây”.

b) “Đại học Đông Dương là Trường Đại học Pháp đầu tiên được thành lập ở bên ngoài chính quốc Pháp, được tổ chức bài bản, trở thành biểu tượng của Nền văn minh Pháp và trên thực tế là khắp vùng Viễn Đông”. (Thực ra thì Đại học Algers được thành lập năm 1909, sau đó không lâu)

c) “Tác động của nền giáo dục được cung cấp tại Đại học Đông Dương đối với đời sống văn hóa của Việt Nam thời kỳ thuộc địa và đương đại”.

Khoan hãy bàn đến ba tiền đề luận lý này. Để đi vào nội dung luận lý quan điểm của tác giả. Trước hết với sự tổng hợp khá cao về nguồn tư liệu ở Việt Nam và Pháp, tác giả đã dựng lại “một lịch sử đầy biến động của Đại học Đông Dương”. Đi sâu vào một số yếu tố liên quan đến vấn đề “Tầng lớp tinh hoa” như lực lượng các giảng viên Pháp - Việt; tình hình lực lượng sinh viên Việt Nam vốn chiếm đa số trong tất cả các chuyên ngành khác nhau để đưa ra quan điểm của mình về Công cụ đổi mới tầng lớp tinh hoa và văn hóa Việt Nam. Theo đó, tác giả đưa ra hai luận đề cơ bản:

-Thứ nhất, “Đại học Hà Nội và sự đổi mới khoa học” của việc đào tạo giới tinh hoa Việt Nam: trong đó nhấn mạnh trước hết “Phạm vi rộng lớn của các ngành học” (Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội) cũng như Lý thuyết Khoa học và Ứng dụng Công nghệ. Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh khá đúng về việc đào tạo “viên chức hành chính” của tất cả các ngành đào tạo mới mẻ nói trên. “Sinh viên tốt nghiệp Đại học này ngày càng hội nhập vào các dịch vụ của chính quyền thuộc địa”, Cuối cùng sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp giữa chính quyền thuộc địa và người dân địa phương, phản ánh mong muốn “Hợp tác Pháp - Việt”, ý tưởng mà Sarraut khẳng định lúc đó.

Như vậy là tác giả đã có những chính minh về luận lý nhất định. Đại học Đông Dương “đổi mới tầng lớp tinh hoa” chủ yếu bằng việc mở rộng các loại hình nghề nghiệp có tính hiện đại, chứ chưa phải hoàn toàn là sự Đổi mới “tầng lớp tinh hoa”. Nói cho cùng, tầng lớp tinh hoa (Elites), nếu nói về sự “Đổi mới” chắc hẳn là việc phải nói đến Đại học Đông Dương giúp gì trong việc cải biến tầng lớp này chuyển từ hệ ý thức Nho giáo sang hệ ý thức Thế giới hiện đại phương Tây. Nói một cách cụ thể hơn như P. Max Wildiers về Tầm nhìn thế giới hiện đại và khoa học công nghệ: “Nhưng chính Descartes, Newton và những nhà tư tưởng ưu tú khác mới là những người thực sự phá hủy tầm nhìn về thế giới Cổ- trung đại và thay thế vào đó một “thế giới bị phân chia làm hai: thế giới tinh thần và thế giới vật chất”. Triết học và Thần học cùng ngự trị thế giới tinh thần. Trong khi đó, khoa học tự nhiên với những phương pháp phân tích mới mẻ đã ngự trị thế giới vật chất và tạo nên sức mạnh khổng lồ cơ giới bởi những luật lệ hoàn toàn có tính thực chứng, định lượng. Nếu cần một phép ẩn dụ về vũ trụ luận này, tác giả không ngần ngại gọi nó là “một thế giới như cỗ máy”.

Hay nói một cách khác tinh gọn hơn, tầm nhìn của tính hiện đại đòi hỏi Tầm nhìn nhị nguyên (Vision dualiste), Tính duy lý (Rationalité), Khoa học luận (Scientisme). Từ đầu thế kỷ XX, nước Pháp đã nhận thấy những khó khăn và những hạn chế khách quan của việc thực hiện tính hiện đại, đã có những vấn đề cần phải thay đổi, trong đó có lĩnh vực giáo dục, đào tạo con người ở chính quốc và thuộc địa nếu không muốn bị tụt hậu so với các cường quốc khác.

Đại học Đông Dương chỉ là một điểm nhấn, bản thân nó chưa thể được coi là một công cụ đổi mới đào tạo tầng lớp tinh hoa.

-Thứ hai, rõ ràng Đại học Đông Dương trong 4 thập kỷ tồn tại đã góp phần không nhỏ trong việc “đổi mới” nhiều khía cạnh trong đời sống văn hóa ở xứ An Nam thuộc địa. Nhưng khó có thể coi nó như một “bước ngoặt” lịch sử.

3. Vấn đề 120 năm đào tạo tinh hoa: từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội

3.1. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên “Hậu hiện đại”, trong đó sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Dân túy (Populisme) trên toàn cầu và sự bùng nổ của không gian mạng xã hội đã tạo ra một thách thức chưa từng có đối với Mô hình quản trị dựa trên Chủ nghĩa Tinh hoa cạnh tranh. Sự đối đầu giữa Logic kỹ trị và Logic dân túy, về bản chất, Chủ nghĩa Tinh hoa cạnh tranh và Chủ nghĩa Dân túy dựa trên những Logic đối lập nhau, tạo nên một sự đối đầu không thể dung hòa về thế giới quan.

Logic của kỹ trị (The Technocratic logic): Logic này dựa trên sự ủy thác (dêlegation) và sự tín nhiệm vào chuyên môn (Trust in expertise). Nó thừa nhận rằng các vấn đề quản trị hiện đại (biến đổi khí hậu, chính sách tiền tệ, đại dịch) là cực kỳ phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu mà đa số công chúng không thể có được. Do đó, việc ra quyết định nên được ủy thác cho một tầng lớp tinh hoa được đào tạo bài bản, có năng lực và hành động dựa trên các bằng chứng khách quan, khoa học. Sự chính đáng của họ đến từ năng lực và hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề. Họ đề cao sự hợp lý, thủ tục và tính dài hạn. ...

Như vậy, ít nhất thì trong nhãn giới của Chủ nghĩa Tinh hoa cạnh tranh hiện nay cũng giúp chúng ta nhìn nhận một cách thấu đáo hơn vấn đề “Đào tạo Tinh hoa” hay đào tạo tầng lớp “Thượng lưu trí thức” mà Phạm Quỳnh hay dùng trên Nam Phong.

3.2. Vài suy nghĩ của chúng tôi về những kinh nghiệm của Đại học Đông Dương về vấn đề này

Như trên đã trình bày, lịch sử ngót 40 năm của Đại học Đông Dương vốn nhiều thăng trầm, thử thách nhưng cũng có được những năm tháng tỏa sáng. Trước khi phân tích những kinh nghiệm quý báu của Đại học Đông Dương, chúng tôi xin phép được trích lại tấm hình “đỉnh” của không gian giáo dục của Đại học Đông Dương qua sự mô tả của Giáo sư Vũ Quốc Thúc:

“Ta hãy tưởng tượng một diễn đài với những hàng ghế bọc nỉ xanh từ trên cao xuống thấp dần, trước mắt là một sân khấu rộng rãi với một cái bàn phủ nỉ xanh và một chiếc ghế bành đồ sộ, vị giáo sư mặc áo thụng đen, phía trước ngực đeo ngù đỏ, và ba hàng băng lông thỏ trắng toát trịnh trọng diễn giảng. Sau lưng ông ta là bức tường hình vòng cung trên vẽ phong cảnh với hàng chữ lớn thiếp vàng La Tinh có nghĩa là: “Đại học ban cho ta Kiến thức, Phẩm giá, Hạnh phúc”. (ALMA MATER EX TE NOBIS DIGNITAS UBERTAS FELICITAS) (Dòng chữ này nằm giữa phía bên dưới của bức tranh tường của Họa sĩ Victor Tardieu).

Riêng quang cảnh này cũng đã khiến cho các người nghe trở nên nghiêm nghị, cảm thấy mình đang dự một buổi lễ, không còn ý tưởng phá rối trật tự nữa. Khỏi cần nói là trong bầu không khí trang nghiêm ấy, kẻ diễn giảng dễ có cảm tưởng là mình đang thi hành một sứ mạng cao cả, còn sinh viên ngồi nghe có ảo tưởng là mình thuộc thành phần ưu tú của xã hội. Đây không phải là một xảo thuật của nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương nhằm nêu cao uy tín của nền Đại học Pháp mà chỉ là một truyền thống của nền Đại học ấy trước khi xảy ra phong trào cách mạng năm 1968” .

Dưới đây là một số kinh nghiệm:

-Thứ nhất, lựa chọn mô hình và loại hình các trường thành viên tiêu biểu và kết nối chặt chẽ với chính quốc để có những điều kiện đáp ứng loại hình đại học hiện đại của Pháp và quốc tế, để có thể lần đầu tiên Toàn quyền Đông Dương, Tướng Catroux vào tháng 1 năm 1940 tuyên bố rằng: “Đại học Đông Dương phải xác định nhiệm vụ là nơi đào tạo giới tinh hoa Đông Dương và cả người Pháp tại đây”.

Mặc dù Đại học Đông Dương ra đời từ 1906 nhưng gần 20 năm đầu chưa có sự phân biệt rõ ràng của hai loại hình: Giáo dục Cao đẳng (Enseignement Superieur) và Đại học (Université). Phải đến năm 1933-1934, Giáo dục Đại học Đông Dương mới có định hình tương ứng với giáo dục đại học ở chính quốc. Trong đó, hai trường Luật và Y đã trở thành một bộ phận thuộc Đại học Luật và Y bên Paris. Tháng 10 năm 1933, ông Michel Escarra, Giáo sư Đại học Luật Paris đã chủ trì Hội đồng đánh giá năm học đầu tiên đào tạo cử nhân Luật ở Trường Luật Hà Nội. Năm 1934, Giáo sư Lemaire, đại biểu đầu tiên của Đại học Y Paris đến Hà Nội để chủ trì Hội đồng giám khảo theo ủy nhiệm của Bộ Quốc gia giáo dục để tìm hiểu hoạt động của trường Y vốn ra đời từ 1902! Như vậy, đến năm 1936, danh xưng Đại học Đông Dương với ba trường thành viên là Trường Y - Dược, Trường Luật và Trường Mỹ thuật, từ đó Đại học Đông Dương mới thực sự trở thành một Đại học với ba mục tiêu được xác định là:

- Đào tạo cán bộ cao cấp hành chính và kỹ thuật

- Tham dự vào đại phong trào khoa học ở chính quốc, đặc biệt là vào nghiên cứu liên quan đến Đông Dương

- Làm cho đại chúng tại Đông Dương nhận thức được những thành tựu chính của nhân loại.

Hai trường lớn là Luật và Y- Dược, trên đường trở thành cơ sở giáo dục đại học thực thụ, sẽ chuẩn bị cho cả ba mục tiêu trên.”  

Trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, Đại học Đông Dương mới được đón nhận sự ra đời của thành viên cuối cùng (trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào tháng 9 năm 1945) được thành lập vào năm 1941. Đến giai đoạn này, vị thế, tính cách của Đại học Đông Dương rõ nét hơn của một đại học có khả năng thực sự đào tạo tinh hoa như trong diễn văn ngày 16-10-1942 của Toàn quyền Decoux: “Trong tương lai sắp tới, Đông Dương sẽ sở hữu một trung tâm trí tuệ không có sự khác biệt so với những đại học lớn ở bên chính quốc. Đại học Đông Dương sẽ có nghĩa vụ thu nhận, giữ gìn, phát triển không ngừng di sản khoa học.”  

Điều này còn được khẳng định bởi ông Charton, Giám đốc Học chính Đông Dương nói vào năm 1944: “Đại học Đông Dương đã đón nhận vào đầu năm học hơn 1300 sinh viên. Từng bước, Trường này giống với những trường đại học anh em của nó bên Pháp.” Tiếc rằng, sau đảo chính của Nhật Bản ngày 9-3-1945, về căn bản Đại học Đông Dương buộc phải đóng cửa tạm thời, dù rằng một số trường thành viên vẫn còn hoạt động nhưng tính chất của nó không còn được như trước nữa.

Như vậy là Đại học Đông Dương có may mắn được tồn tại liên tục đến 1945 với 4 trường có thể coi là tinh hoa: Trường Đại học Y Hà Nội (1902); Trường Đại học Mỹ thuật Đông Dương (1924); Trường Đại học Luật Đông Dương (1931); và Trường Cao đẳng Khoa học (1941). Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng sau khi Trường Đại học

Khoa học ra đời, dư luận của các quan chức và Hội đồng Giáo dục Đông Dương thấy rằng vẫn còn thiếu một trường nữa là Trường Đại học Văn khoa (đào tạo cả cử nhân và sau đại học ở một số ngành khoa học xã hội) để mô hình giáo dục Đại học Đông Dương tương đồng thực sự với bên Pháp. Chính vì thế, sau này, tại Sài Gòn trong vùng Pháp chiếm đóng vào tháng 10 năm 1948, Trường này đã ra đời. Có lẽ nên coi đây là trường cuối cùng thực sự của Đại học Đông Dương.

-Thứ hai, việc đào tạo giới tinh hoa của Đại học Đông Dương như đã phân tích ở phần trên phản ánh rõ nét thực trạng cuộc đấu tranh tư tưởng, chính sách giáo dục giữa chính quốc Pháp và bộ máy chính quyền thuộc địa ở Đông Dương cả về khuynh hướng và mô hình đào tạo cho đến chính sách, chế độ nhân sự, tài chính và các hình thức đầu tư khác. Trong hoàn cảnh như vậy, từ những nhân vật Toàn quyền Đông Dương đến những viên chức cao cấp ở thuộc địa, ngay từ đầu họ đã có ý thức, chủ trương thu hút những gương mặt tiêu biểu bậc nhất của giới trí thức Pháp và một số nước trong số các nước tư bản tiên tiến khác, không kể đến đội ngũ các giảng sư nổi tiếng mà cho đến nay, bản thân chúng tôi cũng chưa thể tổng hợp được hết. Chỉ xin nêu một số ví dụ tiêu biểu của kinh nghiệm này. Trước hết, trường hợp Toàn quyền Paul Doumer, ông ta không chỉ là người mở đầu cho mô hình giáo dục đại học này bằng việc thành lập Trường Đại học Y Hà Nội và đã trực tiếp mời được Bác sĩ Yersin về làm hiệu trưởng để rồi sau đó ở Việt Nam đã có Viện Vệ sinh dịch tễ nổi tiếng cho đến tận ngày nay.

Đến thời Albert Sarraut, vị Toàn quyền này ghi dấu ấn với việc cải cách giáo dục tại Đông Dương và cũng là người thu hút được nhiều nhân vật danh tiếng trong các ngành khoa học ở nước Pháp cho Đại học Đông Dương cùng với các Toàn quyền tiếp theo như Paul Varenne và nhất là Jean Decoux. Hình ảnh các giáo sư người Pháp tại Đại học Đông Dương rất uy tín, với những biểu tượng đẹp đẽ khắc sâu trong trái tim và tâm trí người Việt Nam. Đội ngũ giảng viên được tuyển chọn rất kỹ lưỡng, và một số giáo sư là những học giả hoặc nghệ sĩ lớn như: Alexandre Yersin, Le Roy des Barres, Armand Degorce, Maurice Cognacq, Pierre Huard, Jacques Meyer May, Henri Gaillard, Victor Tardieu, v.v. Nhiều cựu sinh viên của Đại học Đông Dương trong hồi ký của mình đã bày tỏ sự cảm thông và kính trọng đối với tài năng và nhân cách của các giáo sư người Pháp. 

 Như chúng tôi đã phân tích ở phần trên, liên quan đến các khuynh hướng đào tạo tinh hoa, ngay trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, trong chính giới Pháp cũng đã có những nhân vật theo khuynh hướng kỹ trị thực dụng như Paul Doumer. Viên Toàn quyền quyền uy này có vẻ chú trọng trước hết đến Khoa học Ứng dụng, đào tạo thực nghiệp. Vì thế ngay từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Paul Doumer, bên cạnh hiện tượng giáo dục sôi động là Đại học Đông Dương đã có hàng loạt các cơ sở nghiên cứu ứng dụng như: Viện Viễn Đông Bác Cổ (1898); Nha Khí tượng Đông Dương (1898); Nha Địa lý Đông Dương (1899); Viện Vi trùng Sài Gòn (1891); Viện Pasteur Nha Trang (1895). Điều này ít hay nhiều cũng sẽ liên quan đến sự hình thành và phát triển của Hệ thống giáo dục Pháp nói chung ở nước ta mà chúng tôi đã đề cập ở các phần trên .

-Thứ ba, việc đào tạo tầng lớp tinh hoa, từ rất sớm, bộ máy chính quyền thuộc địa cũng đã có ý thức rằng, trong khi tập trung xây dựng, phát triển và hoàn thiện Đại học Đông Dương , dù có theo Chủ nghĩa kỹ trị hay không thì vẫn phải đồng thời phát triển hệ thống các trường Cao đẳng hoặc Trung cấp Kỹ thuật, mặc dù loại hình này phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, đầu tư hạn chế và rất dễ bị đóng cửa hoặc ngừng hoạt động một thời gian như các trường Cao đẳng Sư phạm, Thương mại, Công chính, Nông lâm, Thú Y... Cần nói thêm rằng, về hình thức và điều kiện đào tạo, hệ thống các trường cao đẳng và trung cấp kỹ thuật, mặc dù đối tượng đào tạo hẹp và mang tính chuyên ngành nhưng nói cho cùng số phận của những học viên, sinh viên của loại hình này cũng không quá khác biệt so với những thành phần tinh hoa của Đại học Đông Dương.

-Thứ tư, sản phẩm đào tạo, nhóm xã hội tinh hoa và giới trí thức người Việt nói chung thoát thai từ “Nhà trường Pháp ở Đông Dương”. Có một nghịch lý nổi bật: mục tiêu nhất quán của nước Pháp và chế độ thực dân không gì khác là đào tạo tầng lớp trí thức mới theo hướng phương Tây, đặc biệt là tầng lớp tinh hoa nhằm biến tất cả họ có thể đáp ứng việc củng cố nền thuộc địa Pháp tại Đông Dương như chính bản thân họ từng tuyên bố qua mọi giai đoạn của lịch sử.

Nhưng thực tế đã vấp phải một nghịch lý có tính phổ biến rằng, tuyệt đại đa số lớp người được thoát thai từ cánh cửa trường của nền giáo dục Pháp ở Đông Dương gần như không mấy ai từ bỏ bản sắc dân tộc, lòng yêu nước, Chủ nghĩa dân tộc của mình để từ bỏ căn tính dân tộc. Hơn thế nữa, rất đông trong số họ, kể cả những người sau khi nhận các chứng chỉ, bằng cấp ở những ngôi trường này nếu muốn đạt được những bằng cấp cao hơn thì phải tiếp tục du học ở Pháp và các nước châu Âu bằng túi tiền của gia đình mình. Nhưng rồi họ đã “nhập thế” trong những dòng thác của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Để rồi những thành viên của giới tinh hoa này không những không tham gia bộ máy kỹ trị của chế độ thuộc địa mà lại đóng góp vào việc xây dựng bộ máy chính trị - kinh tế xã hội và cả trên mặt trận quân sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Riêng với việc đóng góp xây dựng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó là Đại học Quốc gia Hà Nội (1995) đến nay, một người hậu thế như tôi vẫn còn ghi nhận được không ít hình ảnh của những nhân vật như vậy, như : Giáo sư Nguyễn Văn Chiển, chuyên ngành Địa chất học, Giáo sư Đào Văn Tiến về Sinh học, Giáo sư Nguyễn Hoán về Hóa học... cho những ngành đó của Đại học Quốc gia Hà Nội hôm nay. Những hình ảnh về những “Ông Tổ ngành” này chắc hẳn cũng giống như các Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Ngô Thúc Lanh với ngành Toán của Đại học Sư phạm Hà Nội. Cũng như các Giáo sư Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Vũ Đình Tụng trong ngành Y.

Còn một hình ảnh khác rất phong phú liên quan đến những nhân vật thuộc sản phẩm của lớp tinh hoa nói trên vẫn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống hiện tại của khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục, từ Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hòe, Đỗ Đức Dục, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều, Ca Văn Thỉnh, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Lân và cả Võ Nguyên Giáp nữa chứ... cho đến những nhân vật tương tự nhưng “định vị xã hội hôm nay” khó hơn một chút như: Vũ Quốc Thúc, Vũ Văn Mẫu, Vũ Quốc Thông, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Hiền,..

-Thứ năm, khi nghĩ đến những kinh nghiệm nói trên, chắc hẳn là chưa đầy đủ, chúng tôi thành tâm muốn có hai đề nghị với các đồng chí trong Ban Lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội trong dịp Nhà trường chúng ta long trọng kỷ niệm và sống lại những ký ức của Đại học Đông Dương ngọn nguồn:

1) Đại học Quốc gia Hà Nội của chúng ta hôm nay liệu đã xác định được các trường thành viên hạt giống có sứ mệnh đào tạo Tinh hoa/ Tinh hoa cạnh tranh đóng góp vào việc quản trị quốc gia, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tất nhiên, sứ mệnh của Đại học Quốc gia Hà Nội vẫn còn nhiệm vụ đóng góp để hoàn thiện hệ thống các trường, các cơ sở khoa học thuộc loại hình kỹ trị.

2) Chúng tôi không nắm hết được những quy định của việc tuyển chọn, tuyển nhân sự, bổ nhiệm các vị trí công tác trong hệ thống lãnh đạo, quản trị và đặc biệt tăng cường đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học có vị trí tên tuổi trong các lĩnh vực chuyên ngành, để họ có thể làm đầu tàu trong việc đào tạo đội ngũ Tinh hoa/ Tinh hoa cạnh tranh nói trên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Thị Diến, “Vấn để đào tạo của Đại học Đông Dương thời kỳ đầu thành lập (1906-1908)”. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN TXXII, Số 2, 2006, trang 8-19.

2. Đào Thị Diến, Sự ra đời của Đại học Đông Dương qua tài liệu lưu trữ, bài trên website: https://vnu.edu.vn/su-ra-doi-cua-dai-hoc-dong-duongqua-tai-lieu-luu-tru-post19219.html.

3. Hoàng Hằng, Quá trình hình thành và phát triển của Đại học Đông Dương qua tài liệu lưu trữ bài trên website: https://archives.org.vn/gioi-thieutai-lieu-nghiep-vu/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-dai-hocdong-duong-qua-tai-lieu-luu-tru.htm.

4. Trịnh Văn Thảo (1995), L’école française en Indochine, Editions Karthala.

5. Trần Thị Phương Hoa, Đại học Đông Dương - sự đoạn tuyệt với quá khứ? Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 28 (2012) 223-233.

6. Trần Thị Phương Hoa (2022), Giáo dục Pháp-Việt ở Bắc Kỳ: 1884-1945 (sách chuyên khảo) NXB Khoa học xã hội.

7. Trần Thị Phương Hoa (2016), Đại học Đông Dương 1906-1945, nỗ lực hiện đại hóa và định hướng ứng dụng, website: https://vnu.edu.vn/dhdong-duong-19061945-no-luc-hien-dai-hoa-va-dinh-huong-ung-dungpost19244.html}

8. Đỗ Quang Hưng (Chủ biên), Trần Viết Nghĩa (2013), Tính hiện đại và sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam thời Cận đại, NXB Chính trị Quốc gia.

9. Trịnh Văn Thảo (2020), Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954), NXB Tri thức.

10. Hoai Huong Aubert-Nguyen và Michel Espagne chủ biên, (2015), Le Vietnam, Une histoire de transferts culturels. Editions. Demopolis, Paris.

11. Lê Xuân Phán, Trường Đại học Luật Đông Dương, 15 năm tỏa sáng ngắn ngủi, trên website: https://tiasang.com.vn/truong-dai-hoc-luat-dongduong-15-nam-toa-sang-ngan-ngui-4971983.html

12. Vũ Quốc Thúc (2010), Thời đại của tôi (2 tập), NXB Người Việt (Hoa Kỳ).

13. Gouvernement generale de L’Indochine, Rapport au Conseil de Gouvernement, Hanoi, 1936.

Revue L’Indochine Hebdomadaaire Illustree

Revue Education

GS.TS. Đỗ Quang Hưng - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
avatar
send icon

Có thể bạn quan tâm

  • Đại học Quốc gia Hà Nội - Từ truyền thống vẻ vang đến phát triển kinh tế giáo dục đào tạo trong kỷ nguyên mới
  • Từ Đại học Đông Dương đến bước chuyển mình của ĐHQGHN trong kỷ nguyên mới
  • Từ Đại học Tổng hợp Hà Nội đến ĐHQGHN - Sự tiếp nối, thăng hoa truyền thống 120 năm vẻ vang
  • Đại học Đông Dương - Sự du nhập hệ thống giáo dục châu âu vào Việt Nam đầu thế kỷ XX
  • Khám phá mạch nguồn tinh hoa của Đại học Đông Dương: Dân tộc - Khoa học - Khai phóng - Nhân văn
  • Bồi dưỡng nhân tài Khoa học Tự nhiên: Thành tựu nổi bật và định hướng phát triển trong kỉ nguyên tri thức
  • Ánh xạ tiến trình phát triển đại học thế giới với giáo dục đại học Việt Nam: Định vị ĐHQGHN trong kỷ nguyên tri thức
Chia sẻ
Share on Facebook
Share on Zalo
Danh mục

Hội thảo "Từ đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội: Truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa"

Lịch sử hình thành và phát triển

Các nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu

Triển lãm nghệ thuật 120 năm - Dòng chảy tri thức