VNU Logo

Khám phá mạch nguồn tinh hoa của Đại học Đông Dương: Dân tộc - Khoa học - Khai phóng - Nhân văn

Ngày 16-5-1906, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ký Nghị định số 1514a thành lập Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) - “một tập hợp các khóa đào tạo bậc đại học cho các sinh viên xứ thuộc địa và các nước láng giềng.”1 Đây là một dấu mốc lớn, khởi nguồn cho truyền thống giáo dục đại học tinh hoa hiện đại ở Việt Nam.

Ở thời điểm được thành lập, Đại học Đông Dương gồm 5 trường thành viên, đều được gọi là “ecole supérieure”, tức là trường đại học3, bao gồm một số trường đã thành lập từ trước, như Trường Pháp Chính, Trường Y khoa, Trường Xây dựng dân dụng và hai trường được thành lập mới là Trường Khoa học và Trường Văn chương. Tính chất đa ngành, đa lĩnh vực đã thể hiện rõ như một nguyên tắc học thuật nền tảng của thực thể đại học đầu tiên này ở Đông Dương.

 1. Centre des Archives d’Outre-Mer à Aix-en-Provencw - CAOM, fonds du Gouvernement général de l’Indochine - GGI, dosier 48.042.

2. Nói “truyền thống giáo dục tinh hoa hiện đại” là bởi vì từ nhiều thế kỷ trước ở Việt Nam đã xuất hiện nền giáo dục tinh hoa, bao gồm cả giáo dục Phật học và giáo dục Nho học theo các mô hình giáo dục truyền thống, đào tạo nên tầng lớp tăng sĩ và Nho sĩ - những người từng đóng vai trò rất quan trọng để dân tộc Việt Nam kiến tạo nên truyền thống văn hiến đáng tự hào.

3. Ở thời kỳ đó “ecole supérieure” nằm trong Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) thì chính là trường đại học, không phải là “trường cao đẳng” như một số người hiểu một cách máy móc.

Cho đến tháng 8 năm 1945, dưới chế độ thuộc địa của ngoại bang, lịch sử của Đại học Đông Dương tuy trải qua những bước thăng trầm, có lúc tưởng chừng như không còn hoạt động, nhưng mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực không ngừng được tiếp tục khẳng định và củng cố. Quy mô và chất lượng đào tạo cũng từng bước được cải thiện, đến trước Thế chiến II bằng tốt nghiệp nhiều ngành, như Y dược, Công chính, Thú y, Thương mại, Canh Nông, Mỹ thuật v.v. của Đại học Đông Dương đã được công nhận tương đương với bằng cấp của các trường đại học ở Pháp.

Điều cần phải nhấn mạnh, rằng từ khi thành lập cho tới tháng 8 năm 1945 Đại học Đông Dương luôn luôn là một đại học tinh hoa (Université d’élite), không phải chỉ vì nó chỉ dành cơ hội học tập cho một số ít học sinh thực sự ưu tú, được tuyển chọn rất kỹ càng cả về năng lực và phẩm chất, bao gồm cả việc điều tra kỹ lưỡng về nhân thân của Sở Mật thám,  mà vì đơn giản là lúc đó trên thế giới chưa xuất hiện mô hình giáo dục đại chúng (mass education) và chưa có bất kỳ trường đại học đại chúng (mass university) nào.

Khi nghiên cứu về các đại học tinh hoa, người ta thường chú ý nhiều nhất đến quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của cơ sở giáo dục. Và những điều này thường được minh chứng bằng số lượng những chương trình đào tạo tinh hoa được kiểm định, bằng số lượng bằng phát minh, sáng chế và những giải thưởng danh giá được trao cho những công trình nghiên cứu của đội ngũ nhà giáo - nhà khoa học và sinh viên của trường. Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá này là phổ biến và đáng tin cậy trong những môi trường giáo dục đại học hiện đại ngày nay, nhưng lại chưa chắc đã phù hợp với những cơ sở giáo dục đại học ra đời ở các xứ thuộc địa và phụ trước Chiến tranh thế giới thứ II.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn kiểm chứng và làm rõ mạch nguồn và tính chất tinh hoa của Đại học Đông Dương theo một cách thức khác, đặc biệt hơn. Đó là khám phá những đặc tính dân tộc - khoa học - khai phóng - nhân văn (nationalism - academics - emanzipation - humanism) của ngôi trường này thông qua khảo sát sự thành đạt và những con đường dấn thân - phụng sự với những đóng góp và ảnh hưởng của đội ngũ sinh viên và cựu sinh viên của trường. Cách thức này có thể chưa thật toàn diện, nhưng chắc chắn rất chính xác và đáng tin cậy, bởi sinh viên là sản phẩm quan trọng nhất của cơ sở giáo dục đại học, dù xưa hay nay thì vẫn là như vậy.

Vậy, sinh viên Đại học Đông Dương là ai và họ đã dấn thân hoạt động như thế nào và có ảnh hưởng hay có đóng góp gì cho đất nước Việt Nam và cho nhân loại?

Hãy nhắc đến tên tuổi của một số cựu sinh viên của Đại học Đông Dương, tạm coi là nổi bật nhất. Đó là: Nguyễn Thái Học, Trường Chinh,

Võ Nguyên Giáp, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Lân, Phạm Huy Thông, Dương Quảng Hàm, Ngô Xuân Diệu, Đặng Thai Mai, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Đình Hòe, Phan Anh, Tôn Thất Tùng, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái và Nguyễn Thị Thục Viên v.v. Trong số họ có người đã trở thành anh hùng dân tộc, là chính khách cao cấp, là tướng lĩnh thiên tài, là nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng thế giới và được lớp lớp người Việt Nam yêu mến, ngưỡng mộ. Ai cũng phải thừa nhận rằng họ thực sự xứng đáng là tinh hoa của dân tộc Việt Nam và của nhân loại.

Đương nhiên, nhân cách tài năng và phẩm chất của họ không chỉ được phát triển từ giảng đường của Đại học Đông Dương, nhưng việc tập trung với độ trù mật rất cao của những cá nhân xuất chúng như vậy trong nhóm cựu sinh viên của nhà trường, tự nó cho thấy tầm vóc, giá trị, và ảnh hưởng thực sự của một môi trường giáo dục chính thức đỉnh cao.

Một số nhóm sinh viên ưu tú của Đại học Đông Dương trong hành trình giải phóng con người, giải phóng xã hội và giải phóng dân tộc

Từ giảng đường đại học đến vũ đài cách mạng

Thế kỷ XX là thời gian - nói theo cách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “dân tộc Việt Nam dũng cảm và thông minh, đã làm được những điều tưởng chừng như không thể làm được, đã làm cho hiện thực lịch sử trở thành huyền thoại.”  Mạch nguồn trung tâm của hành trình “làm cho hiện thực lịch sử trở thành huyền thoại” ấy chính là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam - một trong những cuộc cách mạng vĩ đại đã làm rung động toàn thế giới. Đóng góp vào sự nghiệp chung đó của dân tộc có nhiều cựu sinh viên của Đại học Đông Dương, tiêu biểu nhất là:

Nguyễn An Ninh (1900-1943), cựu sinh viên Đại học Đông Dương ngành Luật và Pháp chính, 1915-1917. Sau hai năm học, với thành tích xuất sắc, ông được Chính phủ thuộc địa cấp học bổng sang học tiếp ngành Luật tại Đại học Sorbone, Paris. Tại đây, ông đã lao vào đọc và tìm hiểu kỹ càng nhiều học thuyết triết học, pháp quyền và các trường phái lý luận cách mạng phương Tây. Theo GS. Trần Văn Giàu thì ở Việt Nam từ trước tới nay không có ai uyên bác được như Nguyễn An Ninh. Ông đặc biệt hiểu sâu sắc cách mạng Pháp và chủ nghĩa Mác.  Xuất phát từ tảng nền nhận thức luận này mà Nguyễn An Ninh đã đi đến kết luận: “Nước Pháp đã đem đến Đông Dương ách thống trị thực dân, nhưng nước Pháp cũng đem đến đó ngọn gió của tinh thần giải phóng.”  Tầm cao tri thức và trái tim yêu nước sục sôi đã dẫn Nguyễn An Ninh đến với nhóm người Việt Nam yêu nước quy tụ xung quanh Phan Châu Trinh và ông trở thành thành viên cốt cán của “Nhóm Ngũ Long”, nơi gửi gắm trọn vẹn lòng tin yêu của người Việt Nam yêu nước ở Pháp, bao gồm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền. Ngay từ năm 1918-1919, ông đã sát cánh cùng Nguyễn Tất Thành trong nhiều hoạt động như soạn thảo “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”, tổ chức báo Le Paria (Người cùng khổ) v.v. Năm 1923, khi Nguyễn Ái Quốc bí mật sang Liên Xô thì Nguyễn An Ninh về nước và lăn xả vào phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạng ở Sài Gòn. Rất nhanh chóng, ông trở thành biểu tượng, thành lãnh tụ tinh thần của cuộc đấu tranh đó, như một bước khởi động cho toàn dân tộc thức tỉnh, bước vào giai đoạn đấu tranh giải phóng dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và lãnh đạo.

Nguyễn Thái Học (1902-1930), cựu sinh viên Đại học Đông Dương ngành Thương mại, 1925-1927. Được khích lệ mạnh mẽ bởi cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân đòi thực dân Pháp xóa án tử hình với lãnh tụ Phan Bội Châu, từ giảng đường Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học đã gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varrenne một bức thư kêu gọi chính quyền thuộc địa tiến hành ngay những cải cách kinh tế, xã hội và giáo dục, ngõ hầu mở đường tiến hóa cho các dân tộc ở Đông Dương và tạo nên điểm kết nối giữa dân chúng thuộc địa với các lý tưởng khai phóng của nền văn minh Pháp. Sau khi những yêu cầu chính đáng, mang đậm lý tưởng nhân văn - khai phóng đó bị thực dân pháp lờ, thì Nguyễn Thái Học đã cùng với Phó Đức Chính và Hồ Văn Mịch - hai sinh viên khác của Đại học Đông Dương đến kết giao với nhóm trí thức yêu nước, cấp tiến ở Nam Đồng Thư xã. Rồi cuối tháng 12-1927, họ cùng nhau lập ra Việt Nam Quốc dân đảng - một đảng chính trị yêu nước theo lập trường dân chủ cách mạng, kiên quyết lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên lật đổ chế độ thuộc địa, khôi phục độc lập và thành lập chế độ dân chủ cộng hòa. Nguyễn Thái Học trở thành Chủ tịch đảng, còn Phó Đức Chính là Phó Chủ tịch của Việt Nam Quốc, Hồ Văn Mịch là Trưởng ban Ngoại vụ.

Do nhiều biến cố thôi thúc, đầu năm 1930 Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính cùng với các thủ lĩnh của Việt Nam Quốc dân đảng buộc phải đi đến quyết định phát động một cuộc khởi nghĩa vũ trang với tinh thần “không thành công thì thành nhân”. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ quyết liệt, làm rung chuyển cả hệ thống thuộc địa của Pháp, nhưng nhanh chóng bị thất bại. Ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính cùng 11 vị thủ lĩnh khác của Việt Nam Quốc dân đảng bị thực dân Pháp hành hình bằng máy chém ở Yên Bái. Trước khi hy sinh, hai cựu sinh viên của Đại học Đông Dương và các vị thủ lĩnh còn cố hô to “Việt Nam vạn tuế!” như gắng gửi gắm vào hồn thiêng sông núi chí khí và cả nỗi uất hận ngút trời của những người anh hùng bất đắc chí.

Đặng Xuân Khu (Trường Chinh, 1907-1988), cựu sinh viên Đại học Đông Dương, 1927. Sau khi bị đuổi khỏi Trường Thành chung Nam Định vì tham gia vào phong trào truy điệu Phan Châu Trinh giữa năm 1926, ông lên Hà Nội và theo học ngành Thương mại. Đặng Xuân Khu gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập rồi trở thành đảng viên cộng sản. Là con nhà khoa bảng, lại có nền tảng giáo dục Tây học vững chắc, ông được Đảng tin cậy giao cho phụ trách công tác lý luận - tuyên truyền. Sau khi thoát khỏi tù ngục thực dân, từ năm 1936-1939 ông đã phụ trách nhiều tờ báo công khai của Đảng xuất bản ở Hà Nội bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. 

Sau khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ (9-1939), rồi quân Nhật tràn vào Đông Dương (9-1940), thực dân Pháp tăng cường đàn áp khốc liệt, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cùng hầu hết các ủy viên trung ương Đảng bị sa vào tay giặc.  Trong bối cảnh đó Trường Chinh cùng với một số cán bộ chủ chốt của Xứ ủy Bắc Kỳ đã chủ động đứng ra khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng. Tháng 11 năm 1940, ông chủ trì Hội nghị Trung ương (Hội nghị Trung ương VII) và được bầu làm Quyền Tổng Bí thư. Cùng với Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và một số cán bộ lãnh đạo khác, ông một mặt tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh việc chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, khôi phục hệ thống tổ chức đang bị thiệt hại nặng nề sau các cuộc khởi nghĩa non ở Bắc Sơn và Nam Kỳ, mặt khác chủ động cử nhiều nhóm cán bộ sang Trung Quốc tìm cách liên lạc và đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 5-1941, ông tham gia Hội nghị Trung ương VIII ở Pác Bó do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, tiếp tục hoàn chỉnh đường lối chiến lược mới của Đảng, mở đường cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. Tại Hội nghị này ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu và chính thức được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Rời Pác Bó, Trường Chinh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng về xuôi xây dựng An toàn khu ngay sát Hà Nội, dựa chắc vào sự che chở của nhân dân để hằng ngày hằng giờ bám sát cơ quan đầu não của kẻ địch, đồng thời giữ mối liên hệ bền chặt với nhân dân và đội ngũ trí thức. Nhờ thế mà Trường Chinh đã có những cống hiến đặc biệt to lớn vào việc lãnh đạo cách mạng. Dấu ấn to lớn cho thấy rõ tầm vóc của một chiến lược gia cách mạng của ông chính là bản Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng do ông khởi thảo - văn kiện mở đường cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công vào tháng 8-1945. Nhưng trước đó phải kể đến bản “Đề cương về văn hóa Việt Nam” của Đảng cũng do chính ông khởi thảo và công bố vào tháng 2- 1943. Văn kiện này chính là bản cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa Việt Nam. Ba nguyên tắc “cách mạng hóa - khoa học hóa - đại chúng hóa” mà ông nêu ra đã tìm thấy tiếng nói chung với những xu hướng văn hóa tiến bộ nhất ở Việt Nam và thế giới và đã nhờ đó mà quy tụ được đội ngũ văn nghệ sĩ trí thức Việt Nam cùng chung tay “lấy cán bút làm đòn xoay chế độ”.

Là Tổng Bí thư của Đảng, trực tiếp lãnh đạo Ủy ban Dân tộc giải phóng, nhưng sau khi giành được chính quyền, Trường Chinh cùng với một số cán bộ cao cấp của Đảng đã tự nguyện rút lui để nhường chỗ cho các nhân sĩ, trí thức yêu nước ngoài đảng. Đây là hành vi “dĩ công vi thượng”, sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học”. Về sau, Trường Chinh tiếp tục được Đảng và Nhân dân tin cậy giao nắm giữ nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, như Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước v.v. Ở cương vị nào ông cũng thể hiện rõ tầm vóc to lớn của một nhà lý luận xuất sắc, đức tính nghiêm cẩn của một nhà nghiên cứu, nhà báo chính luận và tiết tháo - khí phách của một bậc trí thức cộng sản chân chính. Năm 1956, khi Đảng phạm phải những sai lầm không nhỏ trong cuộc cải cách ruộng đất, ông đã tự nhận trách nhiệm về mình, tự nguyện rút khỏi vị trí Tổng Bí thư. Bản lĩnh, đạo đức cách mạng và tài năng xuất chúng của ông, vì vậy, luôn giành được sự tín nhiệm và tin yêu của đồng chí, nhân dân. Khi hệ thống XHCN bị rơi vào khủng hoảng, đất nước cũng bị rơi vào tình thế khó khăn gay gắt, năm 1985 Trường Chinh lại một lần nữa đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư. Ông chính là người khởi xướng và là ngọn cờ tư tưởng của công cuộc Đổi mới. Quan trọng hơn, giữa lúc lòng tin của cán bộ và nhân dân đang bị “xói mòn nghiêm trọng” thì Trường Chinh nêu ra khẩu hiệu “lấy dân làm gốc”. Lòng tin của nhân dân được vãn hồi, sự nghiệp Đổi mới vượt qua mọi thách thức và “dân là gốc” đã trở thành nguyên tắc chính trị cốt lõi của Đảng và Nhà nước ta.

Võ Nguyên Giáp (1911 - 2013), cựu sinh viên Đại học Đông Dương, ngành Luật, 1937-1938. Ông là nhà cách mạng, là chính khách và đặc biệt, là vị tướng tài danh đã được toàn thế giới biết đến và ngưỡng mộ.  Điều cần nhấn mạnh ở đây là: Yếu tố cốt lõi trong nhân cách tài năng của Võ Nguyên Giáp chính là một mẫu hình người trí thức yêu nước, vừa uyên bác, vừa chính trực lại thấm đậm tinh thần nhân văn - khai phóng. Năm 1990, ông từng nói với nhà báo - nhà sử học Mỹ Stanley Karnow, rằng “Nếu tôi không trở thành một người lính, tôi có thể sẽ là một giáo viên, dạy triết học hoặc lịch sử”.  Quả thực là như vậy! Ông miệt mài theo đuổi con đường học vấn và trở thành nhà báo, thành giáo viên dạy lịch sử. Từng có cơ hội là học trò và là người cộng sự của Pierre Gourou - một trong những học giả người Pháp nổi tiếng nhất có mặt ở Đông Dương, Võ Nguyên Giáp đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu hiện đại để cùng với Trường Chinh hoàn thành cuốn sách “Vấn đề dân cày” vào năm 1938.  Cho đến tận hôm nay đây vẫn là một trong những công trình xuất sắc nhất về nông dân - nông thôn miền Bắc và miền Trung Việt Nam.

Hành trang tri thức và tình yêu nước cháy bỏng đã thôi thúc Võ Nguyên Giáp định hướng lý tưởng của mình. Ông từng nói thẳng với Stanley Karnow: “Cũng giống như nhiều trí thức, sinh viên Việt Nam khác, chính chủ nghĩa dân tộc đã biến tôi thành người Marxist.”  Và với tư cách một trí thức, một học giả Marxist, ông đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản và được Hồ Chí Minh dìu dắt trở thành nhà chiến lược quân sự thiên tài. Sau khi sự nghiệp cầm quân kết thúc, Võ Nguyên Giáp trở về với nguyên mẫu hình nhân cách của ông: một nhà trí thức - nhà khoa học nghiêm cẩn, đầy trách nhiệm với dân, với nước. Ông là người mở đường tổng kết nghệ thuật quân sự Việt Nam, mở đường nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là người có ảnh hưởng bao trùm, mạnh mẽ trong giới sử học và khoa học chính trị Việt Nam hiện đại.

Từ giảng đường đến thánh đường khoa học và nghệ thuật

Trong số cựu học sinh của Đại học Đông Dương người ta có thể dễ dàng tìm thấy tên tuổi của nhiều nhà khoa học xuất sắc, những người về sau đã trở thành bậc thầy của các thầy, là người xây nền đắp móng cho nền khoa học của nước Việt Nam độc lập. Tiêu biểu nhất là Dương Quảng Hàm, Tôn Thất Tùng và Phạm Huy Thông.

Dương Quảng Hàm (1898-1946) tốt nghiệp ngành Sư phạm của Đại học Đông Dương năm 1920. Trong thời gian dạy học ở Trường Trung học Bảo hộ - ngôi trường trung học danh giá nhất xứ Bắc Kỳ, thường gọi là “Trường Bưởi”, ông đã biên soạn những sách giáo khoa nổi tiếng là Việt Nam văn học sử yếu (1941) và Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942). Sau Cách mạng tháng Tám, ông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Bưởi. Tuy hy sinh khi còn khá trẻ, nhưng dấu ấn ông để lại trong ngành nghiên cứu văn học nước nhà thực sự rất sâu đậm.

Phạm Huy Thông (1916-1988) là cựu sinh viên ngành Luật của Đại học Đông Dương. Từ năm 16 tuổi Phạm Huy Thông đã sớm nổi tiếng như một cây bút tiên phong trong Phong trào Thơ mới. Nhưng sau đó ông đã chọn con đường học thuật với đam mê Luật học, Sử học và chính trị - kinh tế học. Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Luật tại Pháp, mới 31 tuổi Phạm Huy Thông đã được phong Giáo sư và là Ủy viên Hội đồng khoa học tối cao của Pháp. Năm 1946, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm hóa, Phạm Huy Thông ngày càng dấn bước mạnh mẽ hơn trên con đường tranh đấu. Ông bị chính quyền Pháp cầm tù rồi trục xuất về Việt Nam. Tại quê nhà Phạm Huy Thông chính là người kiến tạo nên ngành Khảo cổ học Việt Nam với nhiều thành tựu khoa học xuất sắc được đánh giá rất cao cả trong nước và trên thế giới.

Tôn Thất Tùng (1912-1982) là cựu sinh viên ngành Y của Đại học Đông Dương (1935-1940). Xuất thân từ gia đình quan lại cao cấp nhưng

Tôn Thất Tùng không màng tới danh lợi mà dành trọn đời mình cho Y học và cho Tổ quốc. Ông là một trong những người góp phần to lớn nhất vào việc xây dựng nên nền Y học Việt Nam hiện đại. Ông cũng tự ghi tên mình vào hàng ngũ những nhà Y học nổi tiếng nhất trên thế giới với phương pháp “mổ gan khô”.

Bên cạnh đội ngũ những nhà khoa học tài danh, giảng đường Đại học Đông Dương còn là nơi đào tạo nên những văn nghệ sĩ - trí thức xuất chúng làm nòng cốt cho cả một “thế hệ vàng” với nhiều tên tuổi lẫy lừng và những cống hiến mang tầm vóc lịch sử lớn lao của họ vào hành trình khai phóng của dân tộc.

Người đầu tiên phải nhắc đến là Hoàng Ngọc Phách (1896-1973), người đã khai sinh ra nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại với tác phẩm Tố Tâm (1920) ngay khi đang là sinh viên Sư phạm của Đại học Đông Dương (1919-1922). 

Người xuất chúng thứ hai phải kể đến chính là Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam (1906-1963). Ông là cựu sinh viên ngành Y học và Mỹ thuật của Đại học Đông Dương. Là người đã bộc lộ tài năng văn chương từ rất sớm, nhưng tên tuổi ông chỉ thật sự lừng lẫy từ sau năm 1932, đặc biệt là với tiểu thuyết Đoạn tuyệt - như một lời tuyên ngôn đanh thép của thế hệ trí thức nói riêng và của dân tộc Việt Nam với những tập tục, truyền thống cổ hủ, lỗi thời.

Đây cũng là thời gian Nhất Linh cùng với hai người em trai là Nguyễn Tường Long (Hoàng Đào) và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), đều là cựu sinh viên ngành Luật và Nông Lâm của Đại học Đông Dương, với hai bạn đồng môn nữa là Thế Lữ (Nguyễn Đình Lễ, Nguyễn Thứ Lễ, cựu sinh viên ngành Luật) và Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu - cựu sinh viên ngành Luật) cải biến tờ Phong hóa thành tờ báo văn chương - chính luận - châm biếm có ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ. Trên cơ sở nhóm Phong hóa, năm 1934 Tự lực văn đoàn chính thức ra đời.  Đây là hội đoàn văn chương tự do đầu tiên của giới trí thức - văn nghệ sĩ Việt Nam, nơi không chỉ đóng vai trò quy tụ mà còn dẫn dắt cả một cuộc cách mạng văn chương - nghệ thuật, mở đường cho sự ra đời và phát triển của nền văn học - nghệ thuật Việt Nam hiện đại.

Trên báo Phong hóa số 87 (ngày 02-03-1934), Tự lực văn đoàn chính thức công bố tôn chỉ của mình, gồm 10 điều như sau: “1) Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích là để làm giầu thêm văn sản trong nước; 2) Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội. Chú ý làm cho người và xã hội ngày một hay hơn lên; 3) Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân; 4) Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam; 5) Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí [chí] phấn đấu và tin ở sự tiến bộ; 6) Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái; 7) Trọng tự do cá nhân; 8) Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa; 9) Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam; 10) Theo một trong chín điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác”.

Có thể thấy rằng tôn chỉ 10 điều của Tự lực văn đoàn dường như trùng khít hoàn toàn với các nguyên tắc “dân tộc hóa - khoa học hóa - đại chúng hóa” được Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra gần 10 năm sau đó, trong bản Đề cương về văn hóa Việt Nam.

Với tinh thần và tôn chỉ như thế, Tự lực văn đoàn đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới văn nghệ sĩ trí thức Việt Nam khi đó, cổ vũ và lôi cuốn nhiều nhóm khác vào cuộc vận động cách mạng văn chương - nghệ thuật, trong đó có nhóm Tiểu thuyết thứ bảy với nhiều thành viên chủ chốt cũng là cựu sinh viên Đại học Đông Dương, như Nguyễn Công Hoan (1903-1977, cựu sinh viên ngành Sư phạm), Nguyễn Triệu Luật (1903-1946, cựu sinh viên ngành Sư phạm) v.v.

Cùng với văn chương, trong các lĩnh vực nghệ thuật cũng diễn ra một cuộc cách mạng rất mạnh mẽ, tiêu biểu nhất là trong hội họa - nơi mà sinh viên và cựu sinh viên Đại học Đông Dương là chủ thể tuyệt đối, vừa khởi xướng, vừa đi tiên phong và cũng là những đại diện tiêu biểu nhất.

So với các trường thành viên khác, Trường Mỹ thuật của Đại học Đông Dương ra đời khá muộn. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 15 năm, Trường đã kịp đào tạo được 13 khóa với khoảng 100 sinh viên tốt nghiệp, trong đó rất nhiều người đã trở thành những họa sĩ rất nổi tiếng, trở thành những người khai mở, dẫn đạo cho toàn bộ nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Lớp họa sĩ nổi tiếng đầu tiên có những người như Thang Trần Phềnh, Lê Văn Miến và đặc biệt là Nguyễn Nam Sơn. Những người này, dưới sự hướng dẫn của danh họa người Pháp Victor Tardieu đã bắc nhịp cầu giữa hội họa Việt Nam truyền thống với mỹ thuật hiện đại. Tiếp theo, từ cái nôi Đại học Đông Dương các lớp họa sĩ - trí thức xuất sắc đã trưởng thành, ngày càng đông đảo và tỏa sáng rực rỡ hơn. Có thể kể đến những cá nhân rất nổi tiếng như: Khóa I (1925 - 1930) có Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Công Văn Chung, Lê Văn Đệ, Georges Khánh và Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh); Khóa II (1926 - 1931) có Tô Ngọc Vân, Hồ Văn Lái, Vũ Cao Đàm; Khóa IV (1928 - 1933) có Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân; Khóa V (1929 -1934) có Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Hậu; Khóa VII (1931 -1936) có Trần Văn Cẩn; Khóa VIII (1932 - 1937) có Lương Xuân Nhị; Khóa IX (1933 - 1938) có Nguyễn Đức Nùng, Trịnh Hữu Ngọc, Nguyễn Dung, Hoàng Lập Ngôn; Khóa XI (1936 - 1941) có Nguyễn Tiến Chung, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Tỵ; Khóa XII (1937 - 1942) có Nguyễn Văn Bình; Khóa XIII (1939 -1944) có Nguyễn Sỹ Ngọc, Trần Đình Thọ, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Trọng Hợp, Huỳnh Văn Thuận v.v… Về sau, Trường còn tiếp tục đào tạo được nhiều họa sĩ và nhà điêu khắc nổi tiếng khác, như Khóa XIV (1940 - 1945) có Nguyễn Sáng; Khóa XV (1941 -1945) có Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Tạ Thúc Bình, Huỳnh Văn Gấm; Khóa XVI (1942 - 1945) có Quang Phòng, Phan Thông, Đinh Minh, Trần Phúc Duyên; Khóa XVII (1943 - 1945) có Mai Văn Hiến, Mai Văn Nam, Lê Thanh Đức; Khóa XVIII (1944 - 1945) có Phan Kế An, Dương Bích Liên, Nguyễn Văn Thiện, Kim Đồng, Nguyễn Như Huân v.v…

Giống như các bạn đồng môn của họ trong lĩnh vực văn chương, đội ngũ họa sĩ tài hoa xuất thân từ Đại học Đông Dương không chỉ đóng góp vào hành trình khai phóng - hiện đại hóa của dân tộc bằng những tác phẩm xuất sắc, mà quan trọng hơn cả là triết lý nghệ thuật mà họ chung sức cống hiến: đó là sự kết nối tinh hoa nghệ thuật truyền thống của dân tộc với những tinh hoa nghệ thuật hiện đại để kiến tạo nên một nền nghệ thuật mới mang đậm tính nhân văn, hiện thực, khai phóng, vừa thấm đẫm tình yêu nước lại giàu năng lực đối thoại liên văn hóa ở tầm cao thời đại.

Âm nhạc không phải là một lĩnh vực nghệ thuật có trong chương trình đào tạo của Đại học Đông Dương, cho nên hầu như không có ai trưởng thành từ ngôi trường này góp mặt vào đội ngũ những người đi tiên phong, mở đường cho nên âm nhạc Việt Nam hiện đại.  Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, cả dân tộc bước vào cuộc đấu tranh quyết liệt để “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” thì những sinh viên Đại học Đông Dương tài hoa lại là người biến âm nhạc hiện đại thành một vũ khí hữu hiệu, như tiếng kèn xung trận cổ vũ tinh thần tranh đấu của nhân dân từ Bắc tới Nam. Bộ ba Huỳnh - Mai - Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ) đã sáng tác hàng chục ca khúc sục sôi tinh thần yêu nước, như “Lên đàng”, “Non sông gấm vóc”, “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”, “Hát giang trường hận” (sau đổi tên là “Hồn tử sĩ”), “Hờn sông Gianh”, “Người xưa đâu tá”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Hành khúc thanh niên” v.v. Bên cạnh bộ ba Huỳnh - Mai - Lưu, các sinh viên khác của Đại học Đông Dương như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Tân v.v. cũng sáng tác nhiều bài hát có sức cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân.

Đem tri thức, tài năng và tinh thần nhân văn - khai phóng phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc

Ba hợp phần không tách rời nhau trong sứ mệnh của giáo dục đại học là: đào tạo, nghiên cứu và phụng sự xã hội. Đại học Đông Dương là một đại học tinh hoa, nhưng chính đại học ấy lại nằm trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa của người Pháp, tức là toàn bộ vận mệnh của ngôi trường bị đặt trong một thế lưỡng nan, giằng xé giữa nhiều động cơ chính trị và nguyên tắc của giáo dục khai phóng đỉnh cao.

Từ phía nhà cầm quyền thực dân, ngôi trường nằm giữa một bên là nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc khai thác và cai trị thuộc địa với một bên là “sứ mệnh khai hóa văn minh”, truyền bá khoa học và thành tựu văn hóa - văn minh Pháp và phương Tây - trong đó có tinh thần khai phóng, nhân đạo, “Liberté, Égalité, Fraternité”. Cả hai động cơ này lại bị tiết chế bởi những tính toán vị kỷ của tập đoàn thực dân cai trị ở Đông Dương.

Nguyễn Văn Thương, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn đã sáng tác được những ca khúc hiện đại đầu tiên trong những năm 1936-1938. Sau những tìm tòi, khám phá bài bản và có tính truyền cảm hứng cao của Nguyễn Văn Tuyên, từ năm 1938 nền âm nhạc hiện đại Việt Nam chính thức hình thành với nhóm Đồng Vọng xuất hiện ở Hải Phòng, gồm Hoàng Quý, Văn Cao, Đỗ Nhuận và một số người khác.

Còn từ phía dân tộc - nhân dân Việt Nam, ngôi trường và đội ngũ sinh viên của nó lại cũng bị giằng xé giữa nhiều kỳ vọng. Một bên là sự mong đợi vào ở sự hình thành và phát triển của một đội ngũ “thượng lưu trí thức mới” thay thế cho đội ngũ Nho sĩ đã lỗi thời, kết nối được tinh hoa văn minh truyền thống của dân tộc với tinh hoa văn minh của thế giới hiện đại, ngõ hầu dẫn dắt dân tộc Việt Nam trên chặng đường tự khai hóa văn minh. Một bên kia là kỳ vọng của cả dân tộc vào sự dẫn đường của những thế hệ trí thức mới trên hành trình giải phóng con người, giải phóng xã hội và giải phóng dân tộc, đưa dân tộc không những thoát khỏi thân phận “vong quốc nô” mà còn tới bến bờ văn minh, tự do, hạnh phúc. Thế lưỡng nan khốc liệt đó lại cũng bị can thiệp, bị tác động hằng ngày bởi những tham vọng chính đáng của cá nhân về sự thăng tiến xã hội và lợi ích cũng như sự thành đạt của cá nhân.

Trong bối cảnh đó, đội ngũ sinh viên Đại học Đông Dương, đặc biệt là bộ phận ưu tú nhất đã kiên quyết dấn thân qua những con đường khác nhau, và bằng cách đó, họ đã đóng góp phần xứng đáng của mình vào hành trình khai phóng của dân tộc Việt Nam và khẳng định được tầm vóc, vị thế và đặc tính tinh hoa của ngôi trường - nơi họ đã học tập và trưởng thành. Cũng chính bằng cách đó, họ đã góp phần làm cho danh dự của nước Pháp và nền văn minh Pháp được bảo vệ và lan tỏa theo đúng những gì mà một dân tộc Pháp chân chính có thể tự hào.

Nhóm thứ nhất, như đã chỉ ra ở trên, gồm những con người ưu tú nhất, chọn lựa con đường khốc liệt nhất: đấu tranh trực diện với ách áp bức thực dân để hướng tới việc lật đổ và thủ tiêu hoàn toàn chế độ thuộc địa, khôi phục độc lập dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam mới dân chủ, tự do và hiện đại. Lựa chọn con đường này, tức là họ sẵn sàng hy sinh đến cả tính mạng, nhưng điều đó không có nghĩa rằng họ là những phần tử tôn sùng bạo lực và cổ vũ cho những hành động cực đoan phản nhân văn, tiến bộ. Những lãnh tụ cách mạng xuất thân từ Đại học Đông Dương đã góp phần cùng với những nhà lãnh đạo khác của cách mạng Việt Nam không ngừng vun bồi cho tầm vóc trí tuệ và bản chất nhân văn - khai phóng của cuộc cách mạng ấy. Vì vậy, ngay cả những phần tử thực dân Pháp, từ những kẻ bảo thủ và hiếu chiến nhất cho tới những người ít nhiều trung thực và tiến bộ, không một ai có thể phủ nhận tầm vóc trí tuệ và bản chất nhân văn - khai phóng của cuộc cách mạng Việt Nam. Còn những người Pháp tiến bộ, nhất là đội ngũ trí thức Pháp thì luôn dành cho cuộc cách mạng ấy sự tôn trọng duy lý.

Nhóm thứ hai, rất đông đảo, là các nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ v.v. xuất thân từ Đại học Đông Dương. Họ đã để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm trong hành trình khai phóng của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ XX. Đương nhiên, họ khẳng định tầm vóc của mình bằng những công trình có ảnh hưởng và ý nghĩa vô cùng sâu rộng. Nhiều cá nhân, chỉ cần nhắc đến tên của họ, tự khắc đã hiển thị những giá trị riêng biệt: Nhất Linh, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, hay Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, hoặc Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng và Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng v.v.

Nhưng chỉ như vậy là chưa đủ! Lớp trí thức - văn nghệ sĩ này đã khắc sâu ảnh hưởng của họ vào lịch sử dân tộc Việt Nam bằng những hoạt động dấn thân phụng sự của họ.

Tự lực văn đoàn không chỉ vang danh với bản tôn chỉ văn chương 10 điểm. Chính họ, thông qua tòa soạn báo Phong hóa và Ngày nay đã lập ra Hội Ánh sáng vào ngày 16-8-1938, thực chất là khởi xướng một chiến dịch rộng rãi, sôi nổi ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ nhằm tập hợp đông đảo những người có từ tâm trong nước, cùng nhau góp một phần công của để triệt phá dần những nhà ổ chuột, xây dựng những ngôi nhà kiểu mới hợp vệ sinh giá rẻ cho dân nghèo, đồng thời tiến hành các hoạt động cứu tế xã hội v.v…  Cũng chính là nhóm Tự lực văn đoàn thông qua tòa báo Ngày nay giương lên một ngọn cờ tập hợp giới văn nghệ sĩ, trí thức tiến bộ và cùng với Đảng Cộng sản (nhóm Tin tức) tổ chức thành công nhiều cuộc tranh đấu sục sôi, thu hút được sự tham gia của hàng triệu quần chúng. 

Cũng chính trong thời gian này nhiều cựu sinh viên và sinh viên của Đại học Đông Dương, như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Khuất Duy Tiến, Nguyễn An Ninh, Đặng Thai Mai, Đỗ Đức Dục v.v. đóng vai trò nòng cốt trong nhiều tòa soạn báo công khai cổ vũ và hướng dẫn quần chúng trong các làn sóng sục sôi đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ. Họ cũng sáng lập ra phong trào Truyền bá chữ Quốc ngữ và nhiều cuộc vận động xã hội khác. Tất cả đều hướng tới mục tiêu phụng sự xã hội, phụng sự nhân dân, và cũng chính bằng con đường đó, họ từng bước trở về cội nguồn, hòa quyện với cuộc sống của nhân dân lao động.

Chiến tranh thế giới II bùng nổ đã đặt toàn dân tộc vào tình thế buộc phải đứng lên, thức tỉnh, đoàn kết và tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng một mất, một còn. Những phần tử hăng hái nhất, như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Khuất Duy Tiến v.v. nhanh chóng bước lên đường tranh đấu dưới ngọn cờ và trong khuôn khổ tổ chức của Đảng Cộng sản. Một số người khác, như Nguyễn Tường Tam và nhóm Tự lực văn đoàn cũng lập ra Đại Việt Dân chính đảng (1939) quyết dấn thân vào con đường cứu quốc. Do non kém về năng lực tổ chức và kỹ năng hoạt động bí mật nên họ nhanh chóng bị Mật thám Pháp bắt giữ, đưa đi cầm tù ở Sơn La và các nhà giam khác. Nguyễn Tường Tam lạc bước sang Trung Quốc rồi tham gia các lực lượng thân Trung Hoa Dân quốc, để rồi từ đó ông mỗi ngày càng lạc lối xa hơn.

Nhóm cựu sinh viên khác của Đại học Đông Dương, tự xem như lớp trí thức tiến bộ “đàn anh”, gồm Vũ Đình Hòe, Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Đỗ Đức Dục, Nghiêm Xuân Yêm v.v. thì dấn thân bằng cách lập ra tòa báo Thanh Nghị, vừa tìm cách quy tụ đội ngũ trí thức thành thị, nhất là hàng trăm sinh viên trong Khu học xá Đại học Đông Dương, củng cố tinh thần dân tộc, hun đúc ý chí đấu tranh và tinh thần trách nhiệm, không để họ bị cuốn theo các trào lưu thân Nhật hoặc thân Pháp. Nhóm này lập ra tạp chí Thanh Nghị làm diễn đàn và là nơi định hướng cho anh chị em. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), một số thành viên của nhóm Thanh Nghị như Phan Anh và Vũ Văn Hiền cùng với Hoàng Xuân Hãn vào Huế, trở thành bộ trưởng trong Nội các Trần Trọng Kim. Dù Nội các bị buộc phải hoạt động trong khuôn khổ của một thiết chế chính trị bù nhìn, nhưng các vị bộ trưởng nói trên vẫn có cách riêng của mình để dấn thân cống hiến, đặc biệt là tổ chức, tập hợp thanh niên, học sinh, sinh viên, hướng họ theo con đường yêu nước, tiến bộ, không để bị “bẻ lái” thành lực lượng thanh niên phát xít, thân Nhật.

Bộ phận còn lại của nhóm Thanh Nghị, gồm Vũ Đình Hòe, Đỗ Đức Dục, Nghiêm Xuân Yêm và một số người khác lúc đầu ra sức hậu thuẫn cho Nội các Trần Trọng Kim, nhưng cũng sớm nhận rõ bản chất bù nhìn và năng lực yếu kém của thể chế này. Khoảng đầu tháng 7-1945 nhóm này đã dứt khoát đứng vào trong hàng ngũ cách mạng của mặt trận Việt Minh.

Cùng trong thời gian đó, những cựu sinh viên như Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Dương Đức Hiền v.v. đã tìm được những ngả đường riêng để đến với Mặt trận Việt Minh. Họ lại có mối liên hệ mật thiết với Tổng hội sinh viên của Đại học Đông Dương ở Hà Nội. Với sự khích lệ và định hướng của Việt Minh, tinh thần yêu nước của sinh viên Đại học Đông Dương bốc cao ngùn ngụt. Họ hát vang những bài hát yêu nước do bộ ba Huỳnh - Lưu - Mai sáng tác, tổ chức diễn nhiều vở kịch và hành hương đến những nơi ghi dấu chiến công của cha ông như Gò Đống Đa, Ải Chi Lăng, Sông Bạch Đằng v.v. Những hoạt động của sinh viên đã lôi cuốn mạnh mẽ sự tham gia của đông đảo thanh niên, học sinh cả nam và nữ. Nhận thấy không khí tranh đấu ở Trung Kỳ và Nam Kỳ còn trầm lắng, nhóm sinh viên quê gốc ở Nam Kỳ, gồm hơn 70 người, đứng đầu là Dương Ngọc Tốt, Trần Bửu Kiếm cùng với bộ ba Huỳnh - Lưu - Mai đã tổ chức nhiều lần đạp xe xuyên Việt để mang ngọn lửa yêu nước thắp sáng lên khắp cõi Việt Nam. Đó chính là Phong trào Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu của sinh viên Đại học Đông Dương trong những tháng năm gian khó, hào hùng nhất của dân tộc. 

Cách mạng tháng Tám thành công, toàn dân tộc Việt Nam nhất tề đoàn kết xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vững tin dưới ngọn cờ đỏ sao vàng cùng “đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, chung tay xây dựng một nước Việt Nam mới theo thể chế dân chủ cộng hòa. Ngay trong ngày đầu của chế độ mới, người ta thấy bên cạnh Cụ Hồ có rất nhiều gương mặt của cựu sinh viên Đại học Đông Dương. Ngoài Tổng Bí thư Trường Chinh, trong thành phần Chính phủ Lâm thời có tới 5 vị bộ trưởng là cựu sinh viên Đại học Đông Dương.  Càng về con số này càng tụ hội đông hơn, bao gồm cả Dương Quảng Hàm, Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Tường Tam, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Thị Thục Viên v.v.

Chỉ riêng điều này đã đủ thay cho lời kết về truyền thống và tầm vóc của Đại học Đông Dương - nơi hội tụ tinh hoa và tỏa sáng rực rỡ truyền thống yêu nước, cách mạng, nhân văn và khai phóng thông qua chính đội ngũ sinh viên và cựu sinh viên của Nhà trường.

GS.TS. Phạm Hồng Tung - Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - Đại học Quốc gia Hà Nội (Qua khảo sát hành trình dấn thân - phụng sự của một số nhóm sinh viên và cựu sinh viên)