Trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam đang nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, việc thành lập Đại học Đông Dương vừa mang tính chất chính trị, vừa mang ý nghĩa giáo dục - văn hóa sâu sắc. Chính quyền thuộc địa mong muốn xây dựng một đội ngũ trí thức bản xứ có trình độ nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị và khai thác thuộc địa. Tuy nhiên, vượt lên trên mục tiêu ban đầu đó, Đại học Đông Dương đã trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học có tầm vóc, góp phần đặt nền móng cho hệ thống đại học hiện đại tại Việt Nam.
Ngay từ khi thành lập, Nhà trường được tổ chức theo mô hình đại học hiện đại, với chương trình đào tạo bài bản, hệ thống ngành học đa dạng và phương pháp giảng dạy tiên tiến. Các lĩnh vực như y dược, khoa học tự nhiên, luật học, văn hóa - khảo cổ và ngôn ngữ học đều được chú trọng phát triển. Đặc biệt, sự hiện diện của nhiều học giả, nhà khoa học danh tiếng đến từ Pháp đã tạo nên một môi trường học thuật chất lượng cao. Những giáo sư này không chỉ giảng dạy mà còn trực tiếp tiến hành nghiên cứu, góp phần đưa Đông Dương trở thành một điểm sáng trong bản đồ khoa học của khu vực. Trong lĩnh vực y học, Đại học Đông Dương, đặc biệt là Trường Y Dược, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Các nghiên cứu về dịch tễ học, vi sinh học và vắc xin đã góp phần đáng kể vào việc phòng chống bệnh tật trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Những công trình nghiên cứu này không chỉ có giá trị trong phạm vi Đông Dương mà còn được giới khoa học quốc tế ghi nhận. Đây là minh chứng rõ nét cho khả năng hội nhập và đóng góp của khoa học Việt Nam trong giai đoạn đầu của tiến trình hiện đại hóa.
Bên cạnh đó, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng ghi nhận những thành tựu nổi bật. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Đông Dương đã có những đóng góp quan trọng trong việc khám phá và hệ thống hóa các giá trị văn hóa - lịch sử của Việt Nam và khu vực. Những công trình nghiên cứu về Trống đồng Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và vương quốc Champa, văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam đã giúp làm sáng tỏ nhiều khía cạnh quan trọng của lịch sử cổ đại Việt Nam. Các phát hiện khảo cổ học không chỉ có giá trị khoa học mà còn góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và chiều sâu lịch sử của dân tộc. Trong lĩnh vực ngôn ngữ học và văn hóa, Đại học Đông Dương cũng là nơi khởi nguồn của nhiều nghiên cứu có giá trị về tiếng Việt và các ngôn ngữ trong khu vực. Các học giả đã tiến hành nghiên cứu, biên soạn từ điển, khảo cứu văn bản cổ và góp phần chuẩn hóa chữ Quốc ngữ. Những công trình này không chỉ phục vụ cho mục đích học thuật mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc phát triển giáo dục và truyền bá tri thức trong xã hội.
Trong quá trình hoạt động của Đại học Đông Dương, đặc biệt từ sau khi được tổ chức lại năm 1917, nhiều nhà khoa học và học giả phương Tây, chủ yếu là người Pháp, đã đến giảng dạy, nghiên cứu và để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực. Họ không chỉ góp phần xây dựng nền móng cho khoa học hiện đại ở Việt Nam mà còn tạo ra những công trình có giá trị quốc tế. Trong số các gương mặt tiêu biểu, trước hết phải kể đến Alexandre Yersin. Ông là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất gắn với Đông Dương, từng cộng sự gắn bó với Louis Pasteur, một nhà khoa học tầm cỡ thế giới, có vai trò lớn trong lĩnh vực y học. Ông sáng lập và tổ chức Trường Y Dược Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội), tham gia giảng dạy và nghiên cứu. Yersin nổi tiếng với việc phát hiện vi khuẩn gây bệnh dịch hạch và đóng góp quan trọng trong nghiên cứu vắc xin, y học nhiệt đới tại Đông Dương.
Trong lĩnh vực khảo cổ học, giới học giả quốc tế cho đến nay vẫn dành sự ngưỡng mộ và đánh giá cao nhà khảo cổ học người Nga Victor Goloubew. Ông là một học giả thuộc Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) đã có nhiều nghiên cứu quan trọng về khảo cổ học và lịch sử nghệ thuật Đông Nam Á. Ông tham gia giảng dạy và có đóng góp lớn trong việc nghiên cứu văn hóa Champa và các di tích cổ ở Việt Nam. Cũng trong lĩnh vực văn hoá, lịch sử không thể không nhắc đến Louis Finot Finot, một trong những học giả hàng đầu về văn hóa và lịch sử Đông Dương, đồng thời là giám đốc đầu tiên của EFEO. Ông có ảnh hưởng lớn đến hoạt động nghiên cứu tại Đại học Đông Dương, đặc biệt trong các lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và văn bản học cổ. Cùng với ông, còn có một nhà nghiên cứu nổi tiếng khác về Hán học và lịch sử là Henri Maspero. Maspero có nhiều công trình quan trọng về văn hóa, tín ngưỡng và lịch sử cổ đại, đồng thời tham gia giảng dạy, góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học xã hội tại Đông Dương. Có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu các nền văn hóa như Sa Huỳnh và Óc Eo cùng các vương quốc cổ như Phù Nam, Champa phải kể đến học giả Georges Coedès, một trong những tên tuổi lớn trong nghiên cứu Đông Nam Á, người đã giúp làm sáng tỏ, đặt nền móng cho ngành sử học và khảo cổ học khu vực Đông Nam Á.
Một điểm đặc biệt quan trọng là môi trường học thuật tại Đại học Đông Dương đã góp phần đào tạo nên một thế hệ trí thức Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung, trong đó có những người trở thành những nhà lãnh đạo cách mạng kiệt xuất như lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, cố Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Kaysone Phomvihane…, những chuyên gia y học nổi tiếng thế giới như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng; những nhà trí thức uyên bác như Đặng Thai Mai, Lê Khả Kế; những họa sĩ danh tiếng như Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn… những người được tiếp cận với khoa học hiện đại, tư duy phương Tây nhưng vẫn gắn bó sâu sắc với truyền thống dân tộc. Chính từ môi trường này, nhiều trí thức đã trưởng thành và sau này đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, văn hóa và cả trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Có thể nói, dù ra đời trong bối cảnh thuộc địa, Đại học Đông Dương đã vượt qua giới hạn ban đầu để trở thành một biểu tượng của sự giao thoa văn hóa và tri thức. Trường không chỉ là nơi truyền bá khoa học phương Tây mà còn là trung tâm nghiên cứu, khám phá và tôn vinh các giá trị văn hóa bản địa. Những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực từ y học đến khảo cổ học đã đưa Đại học Đông Dương trở thành một cơ sở giáo dục có tầm ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi khu vực.
Cách mạng tháng Tám thành công, Đại học Đông Dương được đổi tên thành Đại học Quốc gia Việt Nam. Vào thời khắc nước sôi lửa bỏng, đất nước bộn bề khó khăn, ngày 15/11/1945 đã diễn ra một sự kiện lịch sử đặc biệt. Hồ Chí Minh trực tiếp đến dự và chủ trì lễ khai giảng của Đại học Quốc gia Việt Nam. Ngoài ý nghĩa là lễ khai giảng đầu tiên của nền đại học mới sau Cách mạng tháng Tám, sự kiện này là minh chứng không thể hùng hồn hơn về tư tưởng và tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ nạn đói, nạn dốt đến nguy cơ xâm lược trở lại của thực dân, sự hiện diện của người đứng đầu Chính phủ tại Đại học Quốc gia Việt Nam khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục đại học trong chiến lược phát triển quốc gia. Trường đại học không chỉ là nơi truyền đạt tri thức, mà còn là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ, trí thức - những người sẽ trực tiếp tham gia vào công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước. Sự kiện này còn thể hiện rõ tầm nhìn xa trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề đào tạo nhân tài. Hơn thế nữa, hành động trực tiếp tham dự lễ khai giảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nguồn cổ vũ to lớn đối với đội ngũ giảng viên, sinh viên trong bối cảnh đầy thử thách. Nó gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng trí thức và giáo dục luôn là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng. Những người thầy, người trò không đứng ngoài cuộc đấu tranh của dân tộc, mà chính là lực lượng góp phần quyết định vào thắng lợi lâu dài của đất nước.
Tiếp nối truyền thống đó, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, con chim đầu đàn của giáo dục đại học Việt Nam, đã liên tục được các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước tới thăm động viên, trao những nhiệm vụ quan trọng và tạo những điều kiện thuận lợi để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt phải kể đến những sự kiện Nhà trường vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi cùng với Hồ Chủ tịch còn có các vị nguyên thủ quốc gia như Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô Voroshilov (1957), Tổng thống Ấn Độ R. Praxát (1959), Tổng thống Indonesia Sukarno (1959).
Với sứ mệnh đào tạo nhân tài và nghiên cứu khoa học cơ bản, nền tảng cho toàn bộ nền khoa học của đất nước, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội còn được đích thân Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng giao nhiệm vụ ươm mầm tài năng, mở hệ chuyên đào tạo ra nhiều thế hệ nhà khoa học xuất sắc sau này. Khối chuyên Toán được thành lập năm 1965, giữa lúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra khốc liệt. Khi đó, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã chủ trương tuyển chọn và đào tạo học sinh xuất sắc, nhà khoa học giỏi nhằm chuẩn bị nhân lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những đóng góp của cán bộ, sinh viên các đơn vị của ĐHQGHN không chỉ dừng lại ở lĩnh vực chuyên môn, học thuật mà còn là chiến tích của những cán bộ, sinh viên xông pha trong lửa đạn nơi chiến trường. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, thầy và trò không chỉ học giỏi mà còn ra mặt trận trực tiếp tham gia chiến đấu. Trong những năm học chống Mỹ cứu nước, chỉ riêng từ giảng đường Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã có 1.333 cán bộ và sinh viên xếp bút nghiên lên đường đi chiến đấu. Họ đã dũng cảm chiến đấu vì Tổ quốc và nhiều người đã ngã xuống bên chiến hào như những người Anh hùng. Cả nước biết tên nhà thơ Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), người con của quê hương Bến Tre quật khởi từng là sinh viên sau đó là cán bộ giảng dạy Khoa Lịch sử. Anh đã xung phong về Nam chiến đấu khi vừa tròn 24 tuổi và anh dũng hy sinh khi mới 28. Anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và những tác phẩm bất hủ của Anh, trong đó có Dáng đứng Việt Nam đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Cùng trang lứa với Ca Lê Hiến là Chu Cẩm Phong (Trần Tiến). Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh cũng thuộc diện được giữ lại trường để bồi dưỡng làm cán bộ giảng dạy, nhưng đã quyết tâm xin được về Nam chiến đấu và đã anh dũng hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương. Xúc động trước tấm gương quả cảm của chàng sinh viên xứ Quảng, GS. Hà Minh Đức, người từng là thầy dạy Anh đã nói: “Thời gian không lặng lẽ trôi mà khắc ghi những tấm gương anh hùng, và Chu Cẩm Phong là một trong những cá nhân anh hùng ấy, một niềm tự hào của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội”. Những tác phẩm của Anh đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật và Anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong số những sinh viên đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước có một tấm gương sáng chói. Đó là liệt sĩ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Kim Giao. Công trình: “Phá thủy lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông 1967 - 1972” của Anh đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ đợt I (1996). Cùng ra trận vào những năm tháng ấy còn biết bao những anh, chị vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường. Nhà trường và bạn bè vẫn nhắc đến tên các anh Nguyễn Trọng Định, Ngô Văn Sở, Phạm Ngọc Tuân, Nguyễn Văn Thạc…
Với tầm nhìn vượt đại dương, xuyên thế kỷ, trong những năm tháng vô cùng cam go ác liệt, cả nước phải dồn toàn lực cho chiến trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn tới tương lai khoa học phải giữ vai trò then chốt để xây dựng một đất nước hùng cường. Người luôn nhắc nhở khoa học kỹ thuật là động lực phát triển đất nước nên trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, thiếu thốn đã quyết định cử hàng chục ngàn thanh niên ưu tú ra nước ngoài học tập, tiếp thu kiến thức khoa học tiên tiến để sau khi giành thắng lợi đất nước sẽ có một đội ngũ trí thức làm nòng cột cho công cuộc phát triển, khoa học, kỹ thuật và giáo dục đại học. Nhiều người đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Tổng hợp, sau này trở thành nòng cột của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong số đó không thể không kể đến các nhà khoa học tiền bối tiêu biểu như Giáo sư Hoàng Tuỵ (Toán học), Giáo sư Nguyễn Đình Tứ (Vật lý), Giáo sư Nguyễn Văn Chiển (Khoa học trái đất), Giáo sư Nguyễn Hoán (Hoá học), Giáo sư Mai Đình Yên (Sinh học), Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (Ngôn ngữ học), Giáo sư Phan Hữu Dật (Sử học).
Việc thành lập hai đại học quốc gia: Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1993 và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam. Hai đại học này không chỉ đơn thuần là những cơ sở đào tạo quy mô lớn mà còn được định hướng trở thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức hàng đầu của cả nước, từng bước tiệm cận chuẩn mực khu vực và quốc tế.
Ý nghĩa trước hết nằm ở việc tập trung nguồn lực thông qua mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, Nhà nước có thể đầu tư có trọng điểm về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo, từ đó tạo ra những “đầu tàu” kéo toàn bộ hệ thống giáo dục đại học phát triển. Đồng thời, hai đại học này có cơ chế tự chủ cao hơn, cho phép linh hoạt trong quản trị, mở ngành, hợp tác quốc tế và nghiên cứu liên ngành, những yếu tố then chốt trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Bên cạnh đó, việc thành lập hai đại học quốc gia còn mang ý nghĩa chiến lược về phân bố không gian phát triển giáo dục: một ở miền Bắc, một ở miền Nam, góp phần cân đối nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các vùng, phục vụ trực tiếp cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Không chỉ đào tạo nhân tài, hai đại học này còn đóng vai trò tư vấn chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và lan tỏa tri thức ra xã hội.
Trong bối cảnh lịch sử trước thời kỳ Đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo nguyên tắc kế hoạch hoá cao độ nên mô hình đại học tiên tiến chính là hình mẫu đại học Xô Viết. Cấu trúc phổ biến là đại học cơ bản kết hợp với các trường đại học chuyên ngành. Trường Đại học Tổng hợp chỉ đào tạo khoa học cơ bản. Trong khi đó các trường đại học khác được chuyên ngành hoá, đào tạo các ngành có tính ứng dụng cao. Theo mô hình này, mặc dù kế thừa truyền thống học thuật của Đại học Đông Dương nhưng khi hình thành Trường Đại học Tổng hợp lại có cơ cấu theo mẫu hình Liên Xô.
Hệ thống đại học này đã phát huy vai trò tích cực trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá. Tuy nhiên mô hình đại học chuyên ngành hoá đã sớm bộc lộ hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến cả chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trước hết, đó là sự tách rời khoa học cơ bản với nghiên cứu ứng dụng, khiến cho cả hai đều không thể phát triển mạnh và hầu như không thể bổ trợ cho nhau. Ở Trường Đại học Tổng hợp, việc nghiên cứu thường thiên về lý thuyết và chủ yếu phục vụ giảng dạy. Hầu như thiếu vắng các công trình nghiên cứu ứng dụng có chất lượng cao.
Trong khi đó các trường đại học chuyên ngành lại tập trung vào đào tạo các ngành nghề thiên về ứng dụng, hầu như không quan tâm đến nghiên cứu khoa học, nhất là những nghiên cứu đòi hỏi cần được đầu tư.
Tình trạng tách rời nghiên cứu cơ bản với ứng dụng thực tế đã khiến cho thị trường khoa học - công nghệ ở Việt Nam hầu như thiếu vắng trong một thời gian dài. Chất lượng đào tạo ở các trường chuyên ngành cũng chủ yếu dừng ở việc dạy nghề. Chất lượng nghiên cứu khoa học chính là thước đo chất lượng đào tạo ở các trường đại học.
Khi bước vào thời kỳ Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam vẫn được định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng đã vận hành theo quy luật cung - cầu của kinh tế thị trường, trong đó có thị trường lao động. Trước yêu cầu cấp bách của sự nghiệp Đổi mới trong việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao, nghiên cứu khoa học đỉnh cao thực hiện sứ mệnh quốc gia và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã đưa ra quyết định có tầm chiến lược: thành lập Đại học Quốc gia. Thực hiện chủ trương này, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, ngày 10.12.1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/CP về ĐHQGHN với sứ mệnh là Đại học trọng điểm quốc gia - một trung tâm đào tạo chất lượng cao, trình độ cao gắn với nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, ngang tầm khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế, làm nòng cột và đầu tàu đổi mới cho hệ thống giáo dục nước nhà. Trong suốt hơn 30 năm từ thời khắc lịch sử đó, ĐHQGHN luôn đi tiên phong, sáng tạo được Đảng, Nhà nước, các địa phương và doanh nghiệp tin cậy và có mạng lưới đối tác quốc tế rộng khắp.
Sau gần 40 năm Đổi mới (1986-2025), Việt Nam đã xây dựng được một cơ đồ chưa từng có trong lịch sử. Đây chính là lúc Việt Nam đã đủ thế và lực bước vào một kỷ nguyên mới để thực hiện khát vọng đi tới phồn vinh, xây dựng một quốc gia hùng cường.
Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, đã từng trải qua kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975), kỷ nguyên thống nhất đất nước và Đổi mới (1975-2025). Kỷ nguyên mới sẽ là kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Với tầm nhìn tới năm 2045, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là văn kiện chính trị quan trọng mang tính đột phá, tạo điều kiện cho khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực chính phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Cách đây vừa tròn 80 năm Đảng đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, mở ra một chân trời mới cho sự phát triển của đất nước, khơi dậy khát vọng xây dựng một đất nước hùng cường. Ngày nay với thế và lực mới, chúng ta đã đủ mọi điều kiện để hiện thực hoá khát vọng đó và trên thực tế cả dân tộc đã chỉnh tề đội ngũ để bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đi tới phồn vinh của dân tộc.
Giờ đây, đất nước ta đang có một cơ đồ chưa từng có trong lịch sử và đứng trước một vận hội mới, thời cơ mới để thực hiện khát vọng xây dựng một quốc gia hùng cường, một dân tộc phần vinh. Hơn bao giờ hết, Đại học Quốc Hà Nội gia nhận thấy trách nhiệm lớn lao của mình trước kỷ nguyên vươn mình của cả dân tộc.
Sự nghiệp Đổi mới đang bước vào giai đoạn bứt phá quyết liệt. Khát vọng vươn tới vị thế một quốc gia hùng cường, một dân tộc phồn vinh đang thôi thúc chúng ta hành động. Với bề dày lịch sử và ý chí quyết tâm chưa từng có, chắc chắn Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ bứt phá vươn lên với một nỗ lực phi thường, xứng đáng với những trọng trách quốc gia mà Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó.
Hành trình hơn 120 năm, từ Đại học Đông Dương đến hệ thống đại học hiện đại ngày nay, là một minh chứng sinh động cho sự phát triển bền bỉ và không ngừng đổi mới của nền giáo dục Việt Nam. Qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống này không chỉ giữ vai trò truyền bá tri thức mà còn là nơi hun đúc tư tưởng, đào tạo nên nhiều thế hệ trí thức, nhà khoa học và nhà lãnh đạo quan trọng. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các uỷ viên Bộ Chính trị Lê Xuân Tùng, Phạm Quang Nghị, Nguyễn Xuân Thắng và giờ đây là Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, những người trưởng thành từ môi trường giáo dục đại học Việt Nam, đóng góp quan trọng vào công cuộc lãnh đạo và phát triển đất nước kỷ nguyên mới.
Nhìn lại chặng đường ấy, có thể thấy ý nghĩa lớn lao không chỉ nằm ở sự mở rộng quy mô hay đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, mà còn ở việc khẳng định vai trò của giáo dục đại học như nền tảng cho phát triển quốc gia. Từ quá khứ đến hiện tại, tinh thần hiếu học, khát vọng vươn lên và ý chí phụng sự Tổ quốc vẫn luôn được kế thừa và phát huy. Chính điều đó đã tạo nên một dòng chảy liên tục, kết nối truyền thống với hiện đại, đưa giáo dục đại học Việt Nam từng bước hội nhập và khẳng định vị thế đất nước trong khu vực và trên thế giới.