Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, nền giáo dục đáng tự hào đó đã tỏ ra không đứng vững trước áp lực từ phương Tây tràn tới, đã bộc lộ sự lạc hậu, không đủ sức bảo vệ non sông trước sức mạnh của phương Tây. Vào lúc đó, châu Âu đã có bước tiến lớn về khoa học kỹ thuật, hoạt động thương mại đã mở rộng thị trường trên phạm vi thế giới. Nhất là cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa loài người bước vào thời đại văn minh công nghiệp, một bước phát triển kỳ vĩ so với thời đại của văn minh nông nghiệp. Hệ thống giáo dục được thay đổi cơ bản, hướng đến các ngành khoa học thực nghiệm, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hóa với những thành tựu cơ khí hóa và điện khí hóa.
Nước Pháp, với ý đồ chiếm lĩnh lâu dài thuộc địa Đông Dương, ắt phải tiến hành thiết lập một nền thống trị theo phương thức mới và xây dựng cơ sở hạ tầng thích ứng với việc sử dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật mới. Đó là động cơ chính dẫn đến việc người Pháp xây dựng hệ thống giáo dục từ tiểu học, trung học và cao nhất là Đại học Đông Dương.
Nhiệm vụ của Đại học Đông Dương được xác định trong Nghị định ngày 16/5/1906 là “phổ biến ở Viễn Đông, chủ yếu thông qua tiếng Pháp, những kiến thức về các ngành khoa học và các phương pháp châu Âu”. Nhiệm vụ được thực thi trong chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo của các trường thành viên.
Trường Cao đẳng Luật và Hành chính đào tạo đội ngũ quan lại phục vụ trong bộ máy hành chính người bản xứ hoặc trong cơ quan chính quyền thuộc địa, một bộ phận làm thư ký phục vụ ngành thuế quan và thương chính. Đương nhiên, nội dung giảng dạy đề cập đến luật pháp và tổ chức hành chính phương Tây, lề lối làm việc theo kiểu hiện đại. Sự du nhập kiến thức và phương pháp quản trị mới đã tạo nên sự thay đổi quan trọng của hệ thống quan lại đã từng tồn tại ở nước ta bấy lâu.
Trường Cao đẳng khoa học giảng dạy các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học là những nội dung hoàn toàn mới so với hệ thống các trường khi trước chỉ tập trung “dùi mài kinh sử” với các bộ sách kinh điển “tứ thư, ngũ kinh” và phương pháp thuộc lòng. Những kiến thức về lý thuyết cùng các phòng thí nghiệm giúp người học có điều kiện thực nghiệm, gắn liền hơn với thực tiễn. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể làm công tác nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy tại các trường cao đẳng sư phạm, các trường trung học.
Việc mở Trường Cao đẳng sư phạm nhằm đào tạo giáo viên cho các trường Sư phạm tiểu học, Cao đẳng tiểu học và Cao đẳng bổ túc. Đây chính là “cỗ máy cái” cung cấp đội ngũ giáo viên thế hệ mới, giảng dạy nội dung và phương pháp mới theo mô hình châu Âu. Sinh viên được phân chia theo hai chuyên ban - chuyên ban Khoa học và chuyên ban Văn học; hai năm đầu học các môn cơ bản của mỗi chuyên ban, năm sau dành cho việc thực hành nghiệp vụ sư phạm. Đội ngũ giáo viên tương lai được phân về các trường, trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng nên hệ thống giáo dục mới, dần dần thay thế các trường lớp Nho học
TỪ ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG ĐẾN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: TRUYỀN THỐNG 120 NĂM ĐÀO TẠO TINH HOA
không còn phù hợp. Đến năm 1918, các kỳ thi theo chế độ khoa cử cũ hoàn toàn chấm dứt. Điều đó đồng nghĩa với việc xác lập vị trí chính thống của hệ thống giáo dục tân tiến châu Âu. Nghiên cứu sâu hoạt động chuyên môn của Trường Cao đẳng Sư phạm, GS. Đinh Xuân Lâm đánh giá: “chương trình được chuẩn bị công phu, ổn định, bảo đảm tính hệ thống, toàn diện, khoa học” mà “trong suốt thời gian tồn tại đã liên tục đào tạo ra một đội ngũ nhà giáo mô phạm, đồng thời là những nhà khoa học xuất sắc” . Rõ ràng quá trình thành lập trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương cùng với mạng lưới các Trường sư phạm đã tạo nên khuôn mặt mới cho nền giáo dục Việt Nam theo mô hình phương Tây. Tất nhiên, đối với một thuộc địa, việc du nhập mô hình này không hoàn toàn như chính quốc, đã bị cắt xén nhiều cho phù hợp với hoàn cảnh và mục đích thực sự của giới cầm quyền.
Ngay trước khi Đại học Đông Dương ra đời, trường Y được thành lập từ năm 1902 ở cấp độ thấp, chỉ đào tạo “cán bộ y tế” và nữ hộ sinh; đến năm 1923 trở thành Trường Cao đẳng Y Dược, mười năm sau mới đào tạo bác sĩ và dược sĩ. Sở dĩ người Pháp sớm quan tâm đến ngành này vì khi sang xâm lược và chinh phục thuộc địa, họ mắc phải các loại dịch bệnh nhiệt đới nguy hiểm, trực tiếp đe dọa sinh mệnh của binh lính và viên chức người Âu. Trong thời gian này, một số bệnh viện và viện nghiên cứu y học được thành lập, đặt cơ sở đầu tiên cho nền y học hiện đại. Các giáo sư Trường Đại học Y Hà Nội được cử từ Pháp sang, trong đó có những thầy thuốc nổi tiếng như bác sĩ Yersin - vị hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Y Hà Nội, người đã chế vacxin chống dịch hạch, gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp nhân đạo cứu người ở Đông Dương; bác sĩ Calmette phát minh ra thuốc chống bệnh lao BCG… Hệ thống trường y không được trang bị bằng các trường bên Pháp, đối tượng được chữa bệnh chủ yếu là người Pháp và một bộ phận lớp trên của người Việt, còn đại đa số cư dân vẫn trông chờ vào các thầy lang với bài thuốc dân gian cổ truyền. Nhưng dẫu sao, đây cũng là sự du nhập ngành y tế Tây Âu hiện đại, tiên tiến, chăm sóc sức khỏe với phương pháp chữa bệnh khoa học, sử dụng dược phẩm pha chế theo công thức chính xác. Những thành tựu trên đã đặt những viên gạch đầu tiên cho hệ thống y tế hiện đại sau này.
Trường Cao đẳng xây dựng dân dụng đào tạo nguồn lực kỹ thuật phục vụ công cuộc khai thác và xây dựng. Những người tốt nghiệp trường này làm việc trong các ngành giao thông (cầu, đường bộ, đường sắt), khai mỏ, điện khí (kể cả bưu điện và điện tín), nông nghiệp và lâm nghiệp.
Ngay chương trình của Trường Cao đẳng Văn chương cũng mở rộng phạm vi học tập và nghiên cứu khá rộng so với nền giáo dục cũ. Trong khi duy trì việc giảng dạy văn hóa cổ điển phương Đông, nội dung giảng dạy còn đề cập đến các vấn đề triết học phương Tây, lịch sử và địa lý thế giới, các trào lưu văn học nước ngoài. Đương nhiên, phần về địa lý, lịch sử, văn học Pháp chiếm một tỷ trọng lớn.
Trong quá trình hoạt động, do sự thay đổi chính sách của các Toàn quyền, do điều kiện khó khăn ở thuộc địa và tác động của tình hình thế giới (cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, Chiến tranh thế giới 1939 -1945, sự xâm nhập của Nhật Bản vào Đông Dương từ 1940), việc giảng dạy và học tập ở Đại học Đông Dương có nhiều biến động, thậm chí có lúc phải tạm ngừng, nhưng về cơ bản, đường hướng giáo dục ít thay đổi.
Điểm qua vài nét về Đại học Đông Dương, có thể rút ra đôi điều suy nghĩ sau đây:
Một, việc thành lập Đại học Đông Dương đương nhiên nằm trong chính sách khai thác và bình định thuộc địa của chính quyền thực dân Pháp. Đến đầu thế kỷ XX, hầu như những cuộc khởi nghĩa chống Pháp đều bị trấn áp bằng vũ lực. Phong trào Cần Vương ở miền Trung, khởi nghĩa Yên Thế ở miền Bắc cho đến vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội…, tất cả đều bị dìm trong biển máu. Nền đô hộ Pháp lại bị thách thức bởi những cuộc vận động của tầng lớp sĩ phu cấp tiến, tiêu biểu
TỪ ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG ĐẾN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: TRUYỀN THỐNG 120 NĂM ĐÀO TẠO TINH HOA
là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Không khí chính trị trở nên sôi nổi với phong trào Đông du khuyến khích thanh niên du học theo tấm gương của Nhật Bản, với việc mở trường Đông kinh nghĩa thục sôi động văn thơ thức tỉnh đồng bào, với lời kêu gọi đầy nhiệt huyết “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Trong bối cảnh đó, hệ thống trường học nói chung và Đại học Đông Dương nói riêng được thành lập nhằm mục đích thu hút thanh niên tiếp nhận văn minh Pháp, chịu khuất phục chế độ tư bản Pháp và phục vụ bộ máy thống trị của Pháp ở Đông Dương. Chính quyền Đông Dương đã đạt được mục tiêu này với kết quả đào tạo một đội ngũ những người có trình độ nhất định làm việc trong các cơ quan cai trị của Pháp hoặc của chính quyền bản xứ theo Pháp.
Hai, sự hình thành nhà trường Pháp - Việt bậc tiểu học và trung học, nhất là sự thành lập Đại học Đông Dương chính là sự du nhập một hệ thống giáo dục châu Âu hiện đại, tiên tiến, khác hẳn mô hình giáo dục xưa cũ theo mô hình Trung Hoa. Chương trình đào tạo, tài liệu học tập, phương pháp giảng dạy và tổ chức trường học tạo nên bước chuyển biến cơ bản trong nền giáo dục Việt Nam. Việc sử dụng phổ cập chữ viết theo mẫu chữ La tinh, được coi là chữ Quốc ngữ, vừa đơn giản trong việc học, vừa thuận tiện khi tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài, trước hết là tiếng Pháp. Mặc dầu số người được đến trường chiếm tỷ lệ thấp, đại đa số cư dân còn mù chữ nhưng dẫu sao sự hình thành chế độ giáo dục mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận văn hóa và khoa học kỹ thuật mới, thích ứng với sự biến đổi về kinh tế - xã hội theo chiều hướng hiện đại.
Ba, một thành quả quan trọng là hệ thống giáo dục Pháp Việt và Đại học Đông Dương đã tạo nên một tầng lớp trí thức mới có trình độ cao theo mô hình phương Tây.
Sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Đông Dương cùng những người đi học ở Pháp trở về góp phần quan trọng vào việc thay đổi tư duy và phong cách theo hướng tân tiến, phù hợp với sự phát triển. Có những người làm việc trong các cơ quan công quyền, tham gia bộ máy thống trị của chủ nghĩa thực dân, trở thành cánh tay phục vụ đắc lực chế độ thuộc địa. Nhưng nhiều trí thức khác đã tìm về cội nguồn dân tộc, nghiên cứu những vấn đề phục vụ lợi ích của người dân, đề ra nhiều ý tưởng và biện pháp canh tân nhằm đưa đất nước ra khỏi sự lạc hậu, nghèo khổ. Không ít người, tiếp thu tư tưởng tiên tiến trên thế giới, đặc biệt tinh thần “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Pháp, khi so sánh với thực tiễn đau khổ, bị chà đạp của người dân Việt, đã mạnh dạn rời bỏ giảng đường, ra đi tìm đường cứu nước. Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, chí dũng cảm đã thôi thúc họ bước vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do. Do vậy, trong sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến cứu nước, có sự đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức đã từng là sinh viên Đại học Đông Dương. Họ đảm nhận trách nhiệm các nhà lãnh đạo cách mạng, các nhà chỉ huy quân sự tài năng trên chiến trường, các nhà ngoại giao kiên định trong đàm phán, các nhà khoa học sản xuất vũ khí, thuốc men phục vụ bộ đội, các nhà giáo đào tạo thế hệ trẻ trong nhà trường mới, các nhà văn bám sát cuộc sống của bộ đội, đồng bào. Lực lượng trí thức tham gia cách mạng là những người được học tập trong nhà trường của Pháp nhưng mang nặng tinh thần dân tộc, khát khao quyền được sống trong độc lập - tự do, hăng hái trở về cội nguồn cùng nhân dân bước vào cuộc đấu tranh gian khổ.
Rất rõ ràng, đây là kết quả ngoài ý muốn của các nhà cai trị thuộc địa nhưng lại là kết quả tất yếu khi những người yêu nước, thấm nhuần tinh thần dân tộc tiếp thu văn minh tiên tiến, đã biết vận dụng những điều hiểu biết vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu nhà.
Nhìn nhận sự thành lập và hoạt động của Đại học Đông Dương từ góc độ phổ cập trào lưu văn hóa phương Tây, du nhập hệ thống giáo dục hiện đại vào Việt Nam, chúng ta đồng thời cũng đánh giá cao với lòng kính trọng và khâm phục thế hệ những cựu sinh viên Đại học Đông Dương đã từng dấn thân vào sự nghiệp cứu nước, đã cống hiến cuộc đời cho công cuộc giải phóng dân tộc, dựng xây đất nước.