Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với chất lượng chính sách và pháp luật. Các Nghị quyết quan trọng của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW, đã xác định rõ: đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”, trong đó nhấn mạnh vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học.
Trước hết, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là định hướng đã được khẳng định trong Hiến pháp, các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Trọng tâm của Nhà nước pháp quyền là hệ thống pháp luật tốt, có hiệu lực thực thi. Các chính sách của Đảng luôn xác định rõ vai trò trung tâm của pháp luật trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 09/11/2022 đã xác định mục tiêu xây dựng: “Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán” (tiểu mục 1.2).
Do đó, để xây dựng một hệ thống pháp luật không chỉ hợp hiến, hợp pháp, khả thi mà còn phản ánh đúng thực tiễn và bắt kịp xu thế phát triển của thời đại, rất cần sự đóng góp tích cực của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học - những người vừa có nền tảng lý luận vững chắc, vừa am hiểu thực tiễn. Với sứ mệnh đào tạo và nghiên cứu pháp lý chất lượng cao, Trường Đại học Luật, ĐHQGHN (cùng nhiều cơ sở đào tạo luật uy tín khác) giữ vai trò quan trọng trong công tác tham mưu, tư vấn chính sách, góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Vừa qua, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã nhấn mạnh rằng đây là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước thời kỳ mới, và là nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết cũng đề cao vai trò của các viện nghiên cứu, trường đại học, đội ngũ chuyên gia và nhà khoa học trong việc tư vấn, phản biện chính sách pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Nhà giáo đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đã bước đầu xác lập rõ hơn trách nhiệm chính trị - xã hội của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm cả trách nhiệm phục vụ cộng đồng. Đối với các cơ sở đào tạo luật, trách nhiệm này thể hiện rõ qua việc tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn và đồng hành cùng tiến trình hoạch định chính sách, phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh đó, ĐHQGHN - Trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; ngang tầm khu vực, dần đạt trình độ quốc tế; đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục đại học tiên tiến. Trong đó, đã thể hiện rõ vai trò và uy tín học thuật trong việc thực hiện các nhiệm vụ quốc gia về tham mưu, tư vấn chính sách và pháp luật. Hàng chục công trình nghiên cứu đã được triển khai, cung cấp luận cứ khoa học làm nền tảng cho việc tư vấn chính sách với Đảng và Nhà nước. Các nhà khoa học của ĐHQGHN đã được giao chủ trì giải quyết nhiều vấn đề trọng yếu ở tầm quốc gia; nhiều cán bộ lãnh đạo, nhà khoa học của ĐHQGHN hiện là thành viên của các cơ quan tư vấn chiến lược như Hội đồng Lý luận Trung ương, Ủy ban Quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo, Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực. ĐHQGHN cũng tích cực tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và đề xuất các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về những vấn đề quan trọng, đồng thời đưa ra nhiều khuyến nghị thiết thực liên quan đến quy hoạch phát triển không gian và xây dựng đội ngũ cán bộ cho các địa phương .
Trong dòng chảy chung đó, Trường Đại học Luật - thành viên của ĐHQGHN, một trong những cơ sở đào tạo luật học hàng đầu tại Việt Nam với sứ mệnh “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về pháp luật theo định hướng chuyên gia, lãnh đạo quản lý có tầm chiến lược và khả năng thích ứng cao cho Nhà nước, các tổ chức và xã hội… sáng tạo, truyền bá tri thức; nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu khoa học ứng dụng về luật học”, với giá trị cốt lõi “Khai phóng - Chất lượng cao - Trách nhiệm xã hội” và tầm nhìn trở thành trường đại học luật định hướng nghiên cứu hàng đầu, đã chủ động khẳng định vai trò trong công tác tham mưu, tư vấn chính sách pháp luật, coi đây là một trụ cột quan trọng của hoạt động nghiên cứu phục vụ phát triển. Chính vì vậy, báo cáo này được xây dựng trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn của Nhà trường trong thời gian qua, khái quát vấn đề đào tạo nhân tài, đội ngũ pháp lý, từ đó đề xuất các định hướng, kiến nghị giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của giảng viên, nhà khoa học trong công tác tham mưu, xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật.
2. Đào tạo nhân tài pháp lý và vai trò của đào tạo nhân tài pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1. Nhân tài pháp lý và vai trò của nhân tài pháp lý trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, chất lượng của hệ thống pháp luật và hiệu quả của quản trị quốc gia phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của đội ngũ trí thức pháp lý. Đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực pháp luật có chất lượng cao không chỉ là những cá nhân có trình độ chuyên môn cao, mà là những chủ thể có năng lực dẫn dắt tư duy pháp lý, tham gia kiến tạo thể chế và định hình chính sách công. Đó là những cá nhân có năng lực học thuật xuất sắc: nắm vững lý luận pháp luật, có tư duy hệ thống, có tư duy phản biện, có lập luận pháp lý chặt chẽ, đồng thời ở tầm vĩ mô có năng lực làm chính sách: phân tích, thiết kế và đánh giá chính sách pháp luật. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nhân tài pháp lý còn là những người có tri thức pháp luật rộng mở, so sánh và tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Cũng không thể thiếu các tiêu chí về kỹ năng và phẩm chất - đội ngũ nhân tài pháp lý cần là những người có kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc trong môi trường biến động, và đặc biệt có trách nhiệm xã hội cao, có niềm tin và ý thức bảo vệ công lý, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN cần phải có những nhân tài pháp lý. Thứ nhất, họ là người hiểu biết, có tri thức và ý thức pháp luật cao, đóng góp trực tiếp cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật - đây là điều cốt lõi tạo lập nên khung pháp luật tốt, có tính hợp pháp, khả thi cao, thúc đẩy sự phát triển - đây là yếu tố không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền .
Thứ hai, đội ngũ nhân tài pháp lý sẽ bảo đảm việc thực thi pháp luật với sự tin cậy và chuẩn mực, hợp lẽ công bằng, tiệm cận công lý, bởi lẽ đời sống vận động không ngừng đòi hỏi một tư duy áp dụng pháp luật chặt chẽ, chuẩn mực dựa trên quy tắc nhưng đồng thời, cũng khéo léo phù hợp đạo lý và lẽ phải. Những điều này chỉ có thể dựa trên con người có năng lực pháp luật tốt. Thứ ba, xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi sự thượng tôn pháp luật, sự tuân thủ pháp luật trước tiên trong hoạt động của nhà nước và trong hoạt động của xã hội, bởi vậy cần có đội ngũ nhân lực thực thi quyền lực nhà nước một cách trách nhiệm, hiểu biết, tránh lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Thứ tư, nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao góp phần bảo đảm tinh thần tôn trọng, bảo vệ quyền con người, từ đó góp phần định hình văn hóa pháp lý, văn hóa vì con người trong xã hội. Nói cách khác, chất lượng Nhà nước pháp quyền phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của đội ngũ tinh hoa pháp lý.
2.2. Đào tạo nhân tài pháp lý: nội dung, hình thức, yêu cầu và điều kiện
So chiếu với những yêu cầu về đội ngũ nhân tài pháp lý trong Nhà nước pháp quyền, việc đào tạo nhân tài pháp lý cần đảm bảo các chuẩn đầu ra tương ứng.
Đào tạo nhân tài pháp lý phải vượt khỏi mô hình truyền thống, hướng tới tích hợp ba trụ cột.
Thứ nhất, cần trang bị cho người học nền tảng học thuật chất lượng cao trong lĩnh vực pháp luật và một số lĩnh vực liên ngành. Trong khối kiến thức về pháp luật cần đảm bảo các tri thức cơ sở nền tảng (Lý luận Nhà nước và pháp luật; Luật So sánh; Lập luận pháp lý), các tri thức pháp luật chuyên ngành (Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Thương mại; Luật Đất đai, Luật Tài chính - Ngân hàng, Luật Quốc tế...) và một số tri thức ứng dụng tùy vào lĩnh vực chuyên môn.
Hơn nữa trong bối cảnh ngày nay, với những tương tác xã hội phức tạp và vụ việc xung đột xảy ra có thể không chỉ là khía cạnh pháp lý đơn thuần, thì người thực hành luật và người lãnh đạo cần có những hiểu biết liên ngành - bên cạnh pháp luật cần có tri thức về các lĩnh vực khác như Triết học, Tâm lý học, Xã hội học, Khoa học Nhân văn...
Thứ hai, đào tạo nhân tài pháp lý cần chú trọng đến khía cạnh kỹ năng, đặc biệt kỹ năng mềm để ứng xử linh hoạt trong xã hội luôn thay đổi, khi mà “luật sư mỗi ngày đều phải đối phó với những vấn đề và áp lực trong giao tiếp với các bên liên quan trong nhiều bối cảnh khác nhau, nhưng các thể chế pháp lý vẫn chưa tìm ra cách để thực hiện điều đó một cách toàn diện”. Vậy đào tạo nhân tài pháp lý cần chú trọng trang bị phương pháp tư duy pháp lý - nền tảng quan trọng nhất, nếu trang bị được phương pháp tư duy pháp lý tốt thì con người có thể xử sự và ra quyết định trong mọi tình huống pháp lý.
Bên cạnh đó ngoài các kỹ năng lập luận pháp lý thì cần trang bị các kỹ năng phân tích chính sách, đánh giá tác động pháp luật (RIA); kỹ năng soạn thảo văn bản pháp luật - những kỹ năng này cho phép người lãnh đạo có tầm nhìn vĩ mô và phương pháp thiết kế chính sách, kiến tạo thể chế. Đào tạo nhân tài pháp lý cần chú trọng cả về phương diện đạo đức, cần đảm bảo cho lớp sinh viên tài năng có đạo đức nghề nghiệp; ý thức công lý và phục vụ cộng đồng. Muốn như vậy cần gắn lý luận với thực tiễn; gắn đào tạo với nhu cầu chính sách; bảo đảm tính liên ngành; tiếp cận chuẩn mực quốc tế.
Đào tạo nhân tài pháp lý cần được triển khai đa dạng. Thông thường có sự lựa chọn đầu vào, các cơ sở đào tạo thường chọn hình thức đào tạo chính quy chất lượng cao (chương trình chuẩn, chương trình tiên tiến). Với nhóm người học nghiên cứu chuyên sâu có thể đào tạo sau đại học định hướng nghiên cứu.
Thứ ba, để tiệm cận được các tri thức tốt, mới mẻ thì việc đào tạo cần gắn kết giữa đào tạo - nghiên cứu - tư vấn chính sách. Người học cần được tham gia rộng rãi vào các diễn đàn học thuật, các hội thảo chính sách và có thể tập dượt trong việc nghiên cứu, viết bài về lĩnh vực pháp lý. Luật là một nghề chuyên sâu bởi vậy việc đào tạo cần gắn với các chương trình thực hành pháp luật (legal clinic). Kinh nghiệm các nước tiên tiến cho thấy để trang bị tri thức xuất sắc, các kỹ năng hiện đại, các môn học sẽ được giảng dạy bằng việc kết hợp hai phương pháp là giảng bài, đối thoại với sinh viên và nghiên cứu tình huống (case study). Theo đó, việc học theo nhóm và thực hành dưới sự dẫn dắt của giảng viên luôn được chú trọng và trở thành phương pháp học phổ biến nhất trong các trường luật tại Hoa Kỳ để đảm bảo chất lượng đầu ra là những cử nhân luật có khả năng tư duy và đàm phán độc lập…Tất cả các chương trình học tại Hoa Kỳ đều được giám sát bởi Liên đoàn Luật sư Hoa Kỳ để đảm bảo chất lượng giảng viên, chương trình học khoa học, chặt chẽ và điều kiện vật chất của trường họ.
Do đó, để thực hiện các phương thức đào tạo nhân tài pháp lý cần có những điều kiện bảo đảm. Điều kiện đầu tiên chính là việc thiết kế, triển khai chương trình đào tạo tối ưu phù hợp với trình độ phát triển của thời đại, nhu cầu của thực tiễn. Chương trình đào tạo pháp lý cần bám sát các chuẩn đầu ra của nhân tài pháp lý với tất cả các yếu tố về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết. Các chuẩn đầu ra này xuyên suốt trong mục tiêu, trong khối lượng học phần, trong phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá và đặc biệt thể hiện trong triết lý đào tạo nhân tài. Điều kiện không thể thiếu là cần đội ngũ giảng viên chất lượng cao (vừa giỏi tri thức học thuật vừa có hiểu biết về thực tiễn, hoặc có thể kết hợp với sự tham gia của các nhà thực hành nghề luật, nhà soạn thảo, giới luật sư…); có môi trường học thuật khai phóng, nơi có các cơ hội tiếp xúc, tranh luận với các tri thức mới nhất trong lĩnh vực pháp lý của nhân loại; có cơ sở dữ liệu pháp luật và nghiên cứu hiện đại… Và khả năng giảng dạy nghiên cứu liên ngành giữa luật học và các khoa học khác - môi trường này cần thiết để tạo nên các luật gia thế hệ mới đáp ứng với nhu cầu nghề luật hiện đại trong một xã hội luôn thay đổi không ngừng.
2.3. Thực tiễn đào tạo nhân tài pháp lý tại Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, Trường Đại học Luật, ĐHQGHN, với tiền thân là Khoa Luật thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1976), là một trong những cơ sở đào tạo luật tiêu biểu cho mô hình đào tạo nhân tài pháp lý gắn với truyền thống hàn lâm và trách nhiệm quốc gia. Trải qua 50 năm hình thành và phát triển, Trường không chỉ khẳng định vị thế là trung tâm đào tạo và nghiên cứu pháp luật hàng đầu, mà còn từng bước hình thành một mô hình đào tạo nhân tài pháp lý theo định hướng nghiên cứu, hội nhập và phục vụ kiến tạo, xây dựng thể chế:
Một là, trong những điểm nổi bật của Trường là việc phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao và tiên tiến, với nội dung được thiết kế theo hướng tiếp cận chuẩn mực quốc tế, đồng thời gắn với nhu cầu thực tiễn của Việt Nam. Các chương trình đào tạo của Trường, ở trình độ cử nhân như Luật Thương mại quốc tế, Luật Kinh doanh, đều là những chương trình bắt kịp xu hướng và nhu cầu của thời đại. Các chương trình đào tạo thạc sĩ về Pháp luật về quyền con người, hay Quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng.v.v. đều là những lĩnh vực đào tạo tiên phong, lần đầu tiên xuất hiện trong hệ thống giáo dục pháp luật Việt Nam. Trường đã liên kết với ba trường đại học của Pháp gồm Toulouse 1, Capitole, Lyon 3 và Bordeaux triển khai tổ chức giảng dạy Chương trình Thạc sĩ Luật Hợp tác kinh tế và Kinh doanh quốc tế. Hiện nay, Trường đã tuyển sinh đến khóa thứ 24 với số lượng lớn học viên Việt Nam và học viên từ các quốc gia khác. Các chương trình này không chỉ cung cấp nền tảng lý luận pháp lý vững chắc mà còn tích hợp nhiều học phần hiện đại như: lập luận, tư duy pháp lý; pháp luật so sánh và hội nhập quốc tế; phân tích chính sách công và đánh giá tác động pháp luật, các vấn đề pháp lý mới nổi (chuyển đổi số, thương mại điện tử, quyền con người; pháp luật về sức khoẻ, an ninh phi truyền thống…). Qua đó, người học không chỉ được trang bị kiến thức hiện đại mới mẻ mà còn hình thành năng lực tư duy pháp lý vững chắc và khả năng tham gia vào quá trình xây dựng chính sách.
Hai là, một đặc trưng nổi bật của Trường là môi trường học thuật mang tính khai phóng, cởi mở và giàu tính quốc tế. Triết lý giáo dục của Trường nhấn mạnh tự do học thuật, tư duy phản biện, học tập suốt đời và trách nhiệm xã hội. Đây chính là nền tảng quan trọng để hình thành nhân tài pháp lý có tư duy độc lập và khả năng sáng tạo. Để có môi trường học thuật quốc tế, Trường duy trì mạng lưới hợp tác quốc tế rộng rãi với nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu uy tín trên thế giới như: Đại học Washington (Hoa Kỳ), Đại học Passau (Đức), Đại học Melbourne (Australia), các đối tác từ Pháp, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác. Thông qua các chương trình trao đổi học thuật, hội thảo quốc tế, giảng dạy liên kết, Nhà trường thường xuyên đón tiếp các học giả quốc tế có uy tín, như các giáo sư trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, Luật So sánh, Luật Kinh doanh quốc tế… từ Đại học Oxford, Đại học Harvard đến giảng dạy và trao đổi. Những hoạt động này giúp người học tiếp cận trực tiếp với tri thức pháp lý toàn cầu và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế - các tiền đề cần có đối với nhân tài pháp lý trong bối cảnh hiện tại.
Ba là, đội ngũ giảng viên chất lượng cao và gắn với thực tiễn chính sách. Trường Đại học Luật, ĐHQGHN sở hữu đội ngũ giảng viên có trình độ cao, với tỷ lệ tiến sĩ, giáo sư và phó giáo sư thuộc nhóm cao nhất trong các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam. Đặc biệt, đội ngũ này không chỉ mạnh về nghiên cứu mà còn tham gia tích cực vào hoạt động tư vấn, phản biện và xây dựng chính sách pháp luật cho Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đội ngũ cơ hữu, Trường còn có mạng lưới hơn 300 giảng viên thỉnh giảng và chuyên gia, là những người đang công tác tại các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các tổ chức quốc tế. Sự kết hợp này tạo ra một môi trường đào tạo đặc biệt, trong đó lý luận gắn với thực tiễn, giảng dạy gắn với hoạch định và đánh giá chính sách, nghiên cứu gắn với kiến tạo thể chế. Đây chính là yếu tố cốt lõi để đào tạo nhân tài pháp lý có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng pháp luật.
Những yếu tố trên là tiền đề dẫn đến các thành tựu nổi bật của Trường trong thời gian qua. Một dấu mốc quan trọng khẳng định chất lượng đào tạo và nghiên cứu của Trường là việc lĩnh vực Luật và khoa học pháp lý lần đầu tiên được xếp hạng trong nhóm 351-400 thế giới theo bảng xếp hạng QS năm 2025, và là cơ sở duy nhất của Việt Nam được xếp hạng trong lĩnh vực này. Cho đến lần xếp hạng hiện tại năm 2026 vị thế này của Trường vẫn được duy trì.
Bên cạnh đó, Trường có 100% chương trình đào tạo đại học đã được kiểm định chất lượng, trong đó có chương trình đạt chuẩn AUNQA đầu tiên trong lĩnh vực luật tại Việt Nam; số lượng công bố khoa học quốc tế ngày càng tăng; tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp cao; mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng tích cực.
Trường Đại học Luật, ĐHQGHN luôn thu hút được những sinh viên có năng lực học tập tốt, nhiều sinh viên đạt thành tích cao trong học tập và nghiên cứu khoa học. Sinh viên của Trường thường xuyên tham gia và đạt giải tại các cuộc thi học thuật trong nước và quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực như tranh tụng giả định (moot court), nghiên cứu khoa học sinh viên, và các diễn đàn pháp lý trẻ, tham gia và đạt giải tại các diễn đàn quốc tế như cuộc thi của UNIDROIT (2025). Trải qua nhiều thế hệ, Nhà trường đã đào tạo nên một đội ngũ cựu sinh viên ưu tú, trong đó có nhiều người giữ các vị trí quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp và hãng luật lớn (YKVN, VILAF...). Từ thời Khoa Luật - Đại học Tổng hợp Hà Nội đến nay, nhiều thế hệ trí thức pháp lý được đào tạo tại đây đã tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng Hiến pháp, pháp luật và cải cách thể chế của Việt Nam. Điều này cho thấy, đào tạo tại Trường không chỉ tạo ra “người học giỏi” mà đã thực sự hình thành những nhân tài pháp lý có khả năng đóng góp vào sự phát triển của quốc gia.
2.4. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị, giải pháp trong đào tạo nhân tài pháp lý tại Trường Đại học Luật, ĐHQGHN
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn đào tạo nhân tài pháp lý tại Trường vẫn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Theo đó, mặc dù đã có nhiều đổi mới, nhưng ở một số khía cạnh, đào tạo vẫn còn thiên về lý thuyết, chưa gắn đầy đủ với thực tiễn chính sách; các cơ hội để sinh viên tham gia trực tiếp vào các hoạt động tư vấn, xây dựng pháp luật còn chưa nhiều và chưa được thể chế hóa thành một cấu phần chính thức của chương trình đào tạo; sự liên kết với giới thực tiễn còn khá “thời vụ” chưa đưa thành chiến lược hay kế hoạch xuyên suốt trong hoạt động đào tạo của Trường. Cũng như vậy liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu - cơ quan nhà nước tuy đã hình thành nhưng cần được phát triển theo hướng hệ thống và bền vững hơn; Các sản phẩm đào tạo theo hướng “nhân tài pháp lý” (có khả năng dẫn dắt chính sách) chưa được đo lường một cách rõ ràng và có hệ thống.
Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự giới hạn của nguồn lực, sự ràng buộc của nhiều quy định chung vẫn chưa thực sự “cởi trói” cho môi trường đào tạo, nghiên cứu trong bối cảnh mới. v.v., nhưng đều cho thấy yêu cầu cần tiếp tục đổi mới để đào tạo nhân tài pháp lý thực sự trở thành một chức năng trung tâm của đại học nghiên cứu.
Có thể khẳng định rằng, Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đã và đang từng bước xây dựng một mô hình đào tạo nhân tài pháp lý hiện đại, trong đó đào tạo gắn với nghiên cứu, nghiên cứu gắn với chính sách, và tri thức được chuyển hóa thành năng lực kiến tạo thể chế. Đây không chỉ là kết quả của quá trình phát triển nội tại của Nhà trường, mà còn là sự tiếp nối truyền thống đào tạo tinh hoa từ Đại học Đông Dương trong bối cảnh mới. Đồng thời, đây cũng là nền tảng quan trọng để Trường tiếp tục khẳng định vai trò là một trung tâm đào tạo và tư vấn chính sách pháp luật hàng đầu, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền và thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam.
3. Vai trò của giảng viên, nhà khoa học trong công tác tham mưu, tư vấn, xây dựng chính sách pháp luật
Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo, trong Nhà nước pháp quyền XHCN, vai trò của giảng viên, nhà khoa học trong công tác tham mưu, tư vấn, xây dựng chính sách pháp luật đóng vai trò quan trọng, thể hiện trên nhiều phương diện sau đây:
3.1. Tham gia xây dựng chủ trương, chính sách pháp luật trên nền tảng lý luận khoa học
Giảng viên, nhà khoa học có năng lực đặc thù trong việc xây dựng luận cứ khoa học, dự báo tác động và phân tích chính sách. Với vốn tri thức chuyên sâu, đội ngũ này cung cấp cái nhìn khách quan, hệ thống, toàn diện và bằng chứng thực nghiệm - nền tảng quan trọng trong hoạt động xây dựng chính sách công. Các quyết định chính sách hiệu quả cần được hỗ trợ bởi dữ liệu đáng tin cậy, phân tích lôgíc và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế. Giảng viên trong các trường đại học, nhất là trường đào tạo luật, có khả năng đảm nhận vai trò biên tập, phản biện dự thảo luật, góp ý điều khoản và đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế như công ước quốc tế, án lệ và luật mẫu. Ở Việt Nam, một số cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao... thường xuyên mời giảng viên, nhà khoa học trong các trường đại học, đặc biệt là Trường Đại học Luật, ĐHQGHN, tham gia hội đồng thẩm định, tham vấn, nhóm soạn thảo, tổ thường trực, ban thư ký và tổ tư vấn độc lập. Điều này chứng minh rằng đội ngũ này có vị thế chuyên môn và thực tế pháp lý đáng kể trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Giảng viên có chuyên môn pháp luật có thể truyền đạt kiến thức pháp luật một cách dễ hiểu, chính xác và cập nhật cho người dân, cán bộ, công chức, viên chức, và các đối tượng khác. Điều này giúp nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật và khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Nhiều đề tài, công trình nghiên cứu của giảng viên các cơ sở đào tạo luật uy tín cao của Việt Nam, trong đó có Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đã trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp và hành pháp trong quá trình soạn thảo luật. Các quy định pháp luật cần dựa trên các nền tảng lý luận chặt chẽ và đúc kết từ các giá trị phổ quát của nhân loại. Trường Đại học Luật, ĐHQGHN là nơi đào tạo lý luận pháp luật hàng đầu, và việc đưa ra các ý kiến tư vấn chính sách, pháp luật thường dựa trên những lập luận khoa học chặt chẽ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng là nơi nghiên cứu tiên phong nên các học thuyết mới nhất về quản trị quốc gia, về khoa học pháp lý được trường giảng dạy và áp dụng trong các hoạt động tư vấn, tham vấn, phản biện chính sách, pháp luật.
3.2. Góp phần hoàn thiện pháp luật gắn với thực tiễn Việt Nam
Chính sách và pháp luật phải xuất phát từ nhu cầu xã hội và thực tiễn quản lý. Giảng viên, nhà khoa học - với vai trò trung gian giữa nghiên cứu và ứng dụng - đóng vai trò cầu nối, truyền dẫn các kết quả khảo sát, đánh giá từ thực địa tới các nhà hoạch định chính sách. Vai trò này đặc biệt nổi bật trong bối cảnh chuyển đổi số, khi mà dữ liệu xã hội đang trở thành nguồn tài nguyên mới để xây dựng chính sách “tinh gọn và thông minh”.
Là những người trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu và tiếp cận nhiều mô hình pháp luật so sánh, giảng viên Trường Đại học Luật, ĐHQGHN có điều kiện đề xuất các giải pháp pháp lý phù hợp với đặc thù chính trị - xã hội Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Những đóng góp này thể hiện qua các báo cáo tư vấn, phản biện độc lập cho các Dự thảo Luật cốt lõi như: Luật Hiến pháp, Luật Đất đai, Luật Giáo dục đại học, Luật Việc làm, Luật Công nghệ thông tin đến các Bộ luật “đặc biệt quan trọng” như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự... Các giải pháp pháp lý được đề xuất rất cụ thể, thông qua các hội thảo, tọa đàm, các bản kiến nghị góp ý kiến vào dự thảo luật; các ấn phẩm tư vấn chính sách. Bên cạnh đó, các đóng góp cụ thể vào công tác tư vấn xây dựng pháp luật gồm: phân tích thực tiễn, chỉ ra khoảng trống pháp lý, mâu thuẫn pháp luật; đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế Việt Nam và tiệm cận chuẩn mực quốc tế; so sánh mô hình pháp luật quốc tế, kỹ thuật lập pháp trong pháp luật các nước, qua đó, cung cấp tư liệu cho các cơ quan soạn thảo...
3.3. Thực hiện vai trò phản biện xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật, giáo dục pháp luật và xây dựng văn hóa pháp lý
Phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật được xem là việc làm rõ, đánh giá, thể hiện quan điểm khoa học, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những nội dung còn sai, thiếu, chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa phù hợp với lợi ích của toàn xã hội hay một nhóm xã hội nhất định, từ đó, nâng cao chất lượng, sự ổn định văn bản quy phạm pháp luật, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, bảo đảm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân... . Nói cách khác, chức năng cơ bản của người trí thức, nhà khoa học không chỉ truyền bá những giá trị văn hóa tinh hoa của dân tộc, của nhân loại cho cộng đồng, mà đích quan trọng nhất của phản biện xã hội (trong đó có phản biện chính sách) là “nhằm vạch ra các khuyết tật của xã hội, của chính sách do các cơ quan công quyền ban hành, từ đó giúp cộng đồng nhận thức rõ những vấn đề mà họ phải đối diện, những vấn đề mà nếu không tìm ra hướng giải quyết sẽ nguy hại cho công cuộc phát triển đất nước” . Do đó, bên cạnh tư vấn, giảng viên - nhà khoa học còn có vai trò phản biện chính sách nhằm phát hiện lỗ hổng thể chế, hạn chế của quy phạm pháp luật và kiến nghị điều chỉnh. Đây là một dạng “phản biện xã hội chuyên môn” - được thực hiện trong khuôn khổ Hội đồng khoa học, diễn đàn tham vấn, tư vấn chính sách hoặc thông qua các bài nghiên cứu học thuật... .
Nghị quyết số 45-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 24/11/2023 nêu quan điểm: “Đội ngũ trí thức là lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu về một lĩnh vực, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; giàu lòng yêu nước, có đạo đức và lý tưởng cách mạng, gắn bó với Đảng, Nhà nước và dân tộc; là lực lượng có vai trò quan trọng trong liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; có trách nhiệm tiên phong, tạo ra sản phẩm tinh thần, vật chất chất lượng cao cho xã hội, là nguồn lực đặc biệt trong phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; là nhân tố quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đồng thời chỉ rõ: “Trí thức phải là lực lượng tiên phong trong phản biện, đấu tranh với các luận điểm sai trái, đồng thời xây dựng và bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”. Như vậy, giảng viên luật không chỉ tham mưu kỹ thuật mà còn tham gia định hình quan điểm, lý luận chính sách ở tầm chiến lược. Trong bối cảnh xã hội chuyển đổi nhanh chóng, sự tham gia của giới học thuật vào phản biện các chính sách, nhất là các chính sách có ảnh hưởng sâu rộng đến người dân và doanh nghiệp, có ý nghĩa định hướng dư luận và giúp cơ quan nhà nước nhận diện đúng vấn đề. Nhiều giảng viên các cơ sở đào tạo luật uy tín, trong đó có Trường Đại học Luật đã chủ động viết bài phân tích trên các diễn đàn học thuật, báo chí chính thống, góp phần xây dựng văn hóa pháp lý trong xã hội.
3.4. Góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
Không dừng lại ở vai trò trong quá trình lập pháp, Nghị quyết số 66-NQ/TW còn đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, có nghĩa là bảo đảm để “pháp luật đi vào cuộc sống”. Trong tinh thần đó, đội ngũ nhà giáo đại học, theo quy định mới của Luật Nhà giáo, không chỉ là người truyền đạt tri thức mà còn là những “tác nhân xã hội” mang trong mình trách nhiệm cộng đồng sâu sắc. Thực tiễn tại Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đã minh chứng rõ nét vai trò này thông qua nhiều hoạt động cụ thể và thiết thực, như: (i) giảng viên tích cực tham gia đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; (ii) triển khai các hoạt động tư vấn pháp lý cộng đồng, phổ biến, giáo dục pháp luật - đặc biệt hướng đến các nhóm yếu thế như phụ nữ, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; (iii) tham gia đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật tại địa phương theo đặt hàng của các bộ, ngành Trung ương. Những hoạt động này không chỉ khẳng định vai trò phục vụ cộng đồng của nhà giáo đại học mà còn trực tiếp góp phần lan tỏa tinh thần thượng tôn pháp luật, thúc đẩy pháp luật trở thành công cụ điều chỉnh hiệu quả đời sống xã hội.
3.5. Trách nhiệm đạo đức và học thuật trong tư vấn chính sách
Tham mưu, tư vấn chính sách không chỉ là quyền, mà còn là trách nhiệm học thuật và đạo đức của giảng viên, nhà khoa học trong một xã hội tri thức. Theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, đội ngũ này có nghĩa vụ “tham gia xây dựng, thẩm định, phản biện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” (Điều 16). Trách nhiệm đó không thể thực hiện hiệu quả nếu thiếu vắng các giá trị cốt lõi của đời sống học thuật: trung thực, khách quan và độc lập trong tư duy - những yếu tố nền tảng cho sự hình thành và phát triển của một nền khoa học chính sách vững chắc.
Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước đã nhấn mạnh yêu cầu: “bảo đảm môi trường dân chủ, tự do học thuật để đội ngũ trí thức phát huy sáng tạo, tư duy phản biện trong xây dựng chính sách, pháp luật”. Đây không chỉ là định hướng chiến lược, mà còn là cam kết chính trị đối với vai trò thiết yếu của trí thức trong quá trình kiến tạo thể chế.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng giảng viên, nhà khoa học là lực lượng nòng cốt trong toàn bộ chu trình chính sách - từ nhận diện vấn đề, thiết kế giải pháp, đánh giá tác động, phản biện cho đến hoàn thiện văn bản pháp luật. Vai trò đó vượt khỏi khuôn khổ giảng dạy hay nghiên cứu thuần tuý, để vươn tới không gian công - nơi mà tri thức đại học phải trở thành động lực cho phát triển, và trách nhiệm khoa học cũng là trách nhiệm xã hội.
4. Thực trang ở Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và những kiến nghị, giải pháp
4.1. Những thành tựu đạt được
Trong thời gian qua, Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đã triển khai hàng chục đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ liên quan đến xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách, pháp luật trong tình trạng khẩn cấp, quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng, quyền con người, pháp luật và trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật lập pháp hay đóng góp xây dựng phương án sửa đổi Hiến pháp, các đạo luật cơ bản (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự), đóng góp xây dựng Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, cũng như nhiều đạo luật trong lĩnh vực giáo dục, đem lại thương hiệu và uy tín cho Trường Đại học Luật nói riêng, ĐHQGHN nói chung.
Đội ngũ giảng viên của Trường luôn và rất tích cực tham gia vào các tổ biên soạn, phản biện các dự thảo luật do Quốc hội và Chính phủ chủ trì. Nhà trường cũng thiết lập và duy trì hiệu quả quan hệ hợp tác với nhiều bộ, ngành như Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Công thương, cũng như các tổ chức quốc tế uy tín như UNDP, GIZ, AUF... trong hoạt động nghiên cứu và tư vấn chính sách, pháp luật.
4.2. Một số khó khăn, hạn chế
Việc phát huy vai trò tư vấn, tham mưu chính sách của giảng viên, nhà khoa học tại Việt Nam nói chung và tại Trường Đại học Luật, ĐHQGHN nói riêng hiện đang đối mặt với nhiều rào cản, từ thể chế, cơ chế tài chính đến văn hóa học thuật và không gian dân chủ.
Trước hết, chưa có cơ chế khuyến khích đầy đủ để thúc đẩy hoạt động tư vấn chính sách, trong khi một bộ phận giảng viên vẫn thiên về lý luận hàn lâm, ít tiếp xúc với thực tiễn quản lý và hoạt động xây dựng pháp luật.
Sự kết nối giữa nhà trường và các cơ quan lập pháp, hành pháp còn thiếu hiệu quả và chưa được hệ thống hóa thành mạng lưới bền vững. Các mối quan hệ hiện tại phần lớn mang tính cá nhân, tự phát, thiếu quy trình chính quy để tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến chuyên gia, dẫn đến nhiều đề xuất nghiên cứu có giá trị không được chuyển tải đến các nhà hoạch định chính sách, làm giảm tính hiệu quả và lan tỏa của hoạt động tư vấn.
Bên cạnh đó, một rào cản lớn là thiếu cơ chế tài chính ổn định cho các hoạt động tư vấn, phản biện chính sách. Một điều quan trọng là đầu tư trong xây dựng pháp luật không chỉ là tài chính mà còn bao gồm con người, công nghệ, dữ liệu và thể chế… . Nhiều hội thảo, góp ý, phản biện vẫn chủ yếu được thực hiện trên tinh thần tự nguyện, tâm huyết, trách nhiệm xã hội, với nguồn lực tài chính hạn chế, trong khi yêu cầu về chất lượng và trách nhiệm học thuật ngày càng cao, tạo ra sự bất cân xứng giữa công sức bỏ ra và quyền lợi được ghi nhận, đặc biệt trong bối cảnh giảng viên đang phải chịu áp lực hoàn thành chỉ tiêu định mức giảng dạy, nghiên cứu và công bố quốc tế.
Ngoài ra, hoạt động tư vấn chính sách chưa được phản ánh cụ thể bằng các chỉ tiêu cụ thể trong hệ thống đánh giá hiệu quả nghiên cứu của giảng viên, khiến hoạt động này chưa được nhìn nhận đúng mức trong lộ trình phát triển nghề nghiệp.
Một thách thức không nhỏ khác là vấn đề bảo vệ quan điểm khoa học và bảo đảm độc lập học thuật trong môi trường chính sách giữa nhạy cảm và không có vấn đề; việc phản biện học thuật đôi khi có thể dễ bị hiểu nhầm là chống đối hoặc nhạy cảm, ảnh hưởng đến tâm lý e ngại của giảng viên, nhà khoa học khi đề xuất ý kiến liên quan đến các vấn đề như cải cách tư pháp, quyền con người hay tự do học thuật... Hiện nay, vẫn chưa có cơ chế rõ ràng để bảo vệ các ý kiến phản biện trong trường hợp xảy ra tranh chấp, xung đột lợi ích hoặc bị diễn giải theo chiều hướng không được tích cực.
Từ đây, những rào cản này cho thấy cần có các giải pháp đồng bộ, hệ thống và dài hạn nhằm khơi thông và tạo điều kiện thực chất cho đội ngũ giảng viên, nhà khoa học thực hiện đầy đủ sứ mệnh khoa học - xã hội của mình trong việc tư vấn, phản biện và đồng hành cùng quá trình hoạch định chính sách pháp luật.
4.3. Những đề xuất, kiến nghị
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống văn bản, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn từ Trường Đại học Luật, ĐHQGHN, chúng tôi đề xuất những kiến nghị sau đây:
Thứ nhất, xây dựng và thực thi chính sách đột phá nhằm thiết lập các điều kiện bảo đảm chất lượng đầy đủ, hiện đại, phục vụ hiệu quả cho công tác bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực trí thức tài năng, chất lượng cao, góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Trong đó, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách liên quan, tạo điều kiện pháp lý thuận lợi để giảng viên, nhà khoa học tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật. Bổ sung quy định rõ ràng trong Luật Giáo dục đại học, Luật Khoa học và Công nghệ chính thức xác lập vai trò tham vấn, tư vấn chính sách như một chức năng của giảng viên; đồng thời ban hành các thông tư liên ngành hướng dẫn về chế độ, trách nhiệm, quyền lợi của giảng viên khi tham gia hội đồng, tổ biên tập, nhóm chuyên gia tư vấn cho Nhà nước; công nhận các sản phẩm tư vấn chính sách như báo cáo phản biện, khuyến nghị pháp luật, báo cáo thẩm định là kết quả nghiên cứu khoa học tương đương với bài báo, đề tài để phục vụ xét thi đua, nâng hạng chức danh.
Thứ hai, Chiến lược về One VNU đang tạo ra cơ hội lớn về tư duy kết nối giữa các nhà khoa học ở nhiều ngành, lĩnh vực trong chính các đơn vị thành viên của ĐHQGHN, trong đó có cả các nhà khoa học của Trường Đại học Luật. Chiến lược này sẽ thúc đẩy sự tương tác của đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đầu đàn trong việc chung tay, phối hợp cùng giải quyết những vấn đề chính sách, tham gia đồng tư vấn với các vấn đề phát triển chính sách cấp quốc gia và khu vực, “dẫn dắt và đổi mới sáng tạo của Thủ đô và cả nước, đóng góp quan trọng hiện thực hóa tầm nhìn, mục tiêu phát triển quốc gia”. Do đó, mỗi đơn vị thành viên xác định rõ các định hướng giá trị và lĩnh vực ảnh hưởng của mình để từ đó nhận diện “bản sắc riêng”, ưu thế riêng, thế mạnh riêng, mũi nhọn riêng trong hoạt động tư vấn chính sách chung, trong đó có chính sách pháp luật của ĐHQGHN, Trường Đại học Luật trong thời gian tới.
Cùng với đó, tăng cường cơ chế đặt hàng nghiên cứu, tư vấn chính sách từ phía Nhà nước đối với các trường đại học và viện nghiên cứu luật học, trong đó cần xác định Trường Đại học Luật, ĐHQGHN là đối tác chiến lược trong quá trình hoạch định chính sách pháp luật. Trên cơ sở này, tăng cường cơ chế tài chính và chính sách đãi ngộ thông qua việc bổ sung dự toán ngân sách cho hoạt động tư vấn - phản biện trong các chương trình, đề án, dự thảo luật của bộ, ngành; cho phép các trường đại học sử dụng Quỹ Khoa học và Công nghệ để hỗ trợ giảng viên triển khai hoạt động tư vấn, mời chuyên gia, tổ chức hội thảo, tọa đàm, diễn đàn; đồng thời thực hiện cơ chế khen thưởng, ưu đãi đặc biệt cho những giảng viên có đóng góp nổi bật và có ảnh hưởng xã hội cao trong hoạt động tư vấn, phản biện chính sách pháp luật.
Thứ ba, phát triển năng lực tư vấn chính sách và kỹ năng liên ngành cho đội ngũ giảng viên thông qua các khóa tập huấn định kỳ về kỹ năng viết chính sách, truyền thông học thuật, đánh giá tác động chính sách (RIA); đồng thời khuyến khích các nghiên cứu liên ngành giữa luật - chính sách công - quản trị - công nghệ - kinh tế… nhằm nâng cao tính tích hợp và khả năng ứng dụng của khuyến nghị chính sách, đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện nay. Phát triển mô hình “nhóm nghiên cứu mạnh” trực thuộc nhà trường, tập hợp các chuyên gia trong và ngoài trường, hoạt động chuyên nghiệp, có định hướng rõ ràng gắn với các vấn đề thực tiễn của đất nước. Đưa nội dung tư vấn và phản biện chính sách vào hệ thống nhiệm vụ chính thức của giảng viên, gắn với các tiêu chí đánh giá, xếp loại hàng năm nhằm tạo động lực và ghi nhận đóng góp thực chất. Lưu ý, “tạo nguồn” đội ngũ này qua việc đào tạo, sử dụng và thu hút nhân tài - đột phá chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, để có đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học nối tiếp sau này. Cùng với đó, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin pháp luật phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và tư vấn chính sách, nhằm cung cấp nền tảng học thuật đáng tin cậy và cập nhật.
Thứ tư, thiết lập mạng lưới kết nối giữa trường đại học - cơ quan nhà nước - tổ chức xã hội thông qua các kênh đối thoại thường xuyên, nền tảng học thuật mở, cổng thông tin trực tuyến để công bố các khuyến nghị chính sách; ví dụ, Trường Đại học Luật, ĐHQGHN có thể đóng vai trò đầu mối trong việc hình thành “Mạng lưới chuyên gia tư vấn chính sách pháp luật”, đồng thời ký kết các biên bản ghi nhớ (MOU) với các bộ, ngành nhằm bảo đảm tính ổn định, bền vững của mối quan hệ hợp tác.
Thứ năm, thúc đẩy văn hóa học thuật phản biện và bảo đảm quyền tự do tư vấn trong môi trường dân chủ, cởi mở, khuyến khích các quan điểm học thuật khác biệt được lắng nghe, tiếp nhận trên tinh thần xây dựng; thiết lập cơ chế bảo vệ quyền lợi của giảng viên, nhà khoa học khi tham gia tư vấn các vấn đề nhạy cảm như cải cách tư pháp, quyền con người, pháp luật đất đai, biển đảo; đồng thời phát triển cơ sở dữ liệu pháp lý mở, tạo điều kiện để giảng viên tiếp cận thông tin một cách thuận lợi, xây dựng luận cứ học thuật vững chắc, góp phần nâng cao chất lượng và sức ảnh hưởng của hoạt động tư vấn chính sách.
5. Kết luận
Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách thể chế và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài pháp lý, cũng như phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong công tác tham mưu, tư vấn chính sách pháp luật trở thành một yêu cầu mang tính cấp thiết. Các nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và đặc biệt là Nghị quyết số 66-NQ/TW đã mở ra hành lang chính trị và pháp lý rõ ràng để thúc đẩy hoạt động tư vấn chính sách từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Nghị quyết số 66-NQ/TW, với yêu cầu “đặt yêu cầu thực tiễn làm trung tâm, chất lượng làm thước đo”, đã tạo nền tảng để hoạt động tham mưu chính sách pháp luật xuất phát từ xã hội, từ nhà trường - nơi hội tụ tri thức lý luận và tiếp xúc trực tiếp với các vấn đề thực tiễn. Trong thời gian qua, Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đã và đang tích cực đáp ứng đòi hỏi đó thông qua chuỗi hoạt động tư vấn, phản biện, kiến nghị chính sách mang dấu ấn học thuật nhưng phục vụ trực tiếp cho quá trình lập pháp, hành pháp. Trách nhiệm cộng đồng và khát vọng phát triển đất nước đòi hỏi đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên của nhà trường phải tiếp tục tham gia sâu hơn nữa vào công cuộc xây dựng pháp luật, đồng hành cùng Đảng và Nhà nước trong hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược quốc gia.
Hướng tới mục tiêu trở thành “trường đại học nghiên cứu hàng đầu về luật học”, tập thể Trường Đại học Luật, ĐHQGHN cam kết mở rộng quy mô, nâng cao chiều sâu và gia tăng tác động xã hội của các hoạt động tư vấn chính sách, từng bước chuyển hóa tri thức học thuật thành nguồn lực lập pháp, góp phần thiết thực vào việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, hiện đại và hiệu quả. Với vị thế là cơ sở đào tạo luật định hướng nghiên cứu hàng đầu, Nhà trường không chỉ khẳng định vai trò trong lĩnh vực đào tạo đội ngũ chuyên gia pháp luật, trong công tác giảng dạy và nghiên cứu mà còn phải tích cực thể hiện trách nhiệm xã hội, đồng hành cùng tiến trình cải cách thể chế quốc gia. Đó cũng chính là cách hiện thực hóa triết lý giáo dục “Khai phóng - Chất lượng cao - Trách nhiệm xã hội” bằng hành động cụ thể - trở thành một trường đại học đồng kiến tạo chính sách quốc gia, cùng với các đơn vị thành viên của ĐHQGHN tạo ra One VNU, trong đó có cả các nhà khoa học của Trường Đại học Luật. Chiến lược này sẽ thúc đẩy sự tương tác của đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong việc chung tay giải quyết những vấn đề chính sách, tham gia đồng tư vấn với các vấn đề phát triển chính sách cấp quốc gia và khu vực, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cũng như tham vấn, phản biện, xây dựng thể chế, chính sách pháp luật./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Hà Nội.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.
4. Bộ Tư pháp (2021), Đề án Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2030, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp (2025), Bình luận khoa học về tham vấn chính sách trong Dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi): Đổi mới và thách thức, https://www.moj.gov.vn, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.
6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024), Dự thảo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (sửa đổi), https://most.gov.vn, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.
7. Chính phủ (2014), Nghị định 08/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
8. Nguyễn Văn Cường (2020), “Giảng viên đại học và trách nhiệm phản biện chính sách công”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, tr.12-19.
9. Hà Hữu Dũng (2024), “Nâng cao vai trò của phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu pháp triển đất nước”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, kỳ 2 (419), tháng 12/2024.
10. Trần Văn Duy (2025), Đổi mới đầu tư xây dựng pháp luật theo Nghị quyết 66-NQ/TW trong kỷ nguyên mới, https://www.moj.gov.vn, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.
11. ĐHQGHN (2021), Quyết định số 800/QĐ-ĐHQGHN ngày 29/3/2021 về Chiến lược phát triển ĐHQGHN đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Hà Nội.
12. ĐHQGHN (2025), Quyết định số 6561/QĐ-ĐHQGHN ngày 29/12/2025 về Chiến lược phát triển ĐHQGHN giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn 2045, Hà Nội.
13. ĐHQGHN (2025), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội khóa VI trình Đại hội Đại biểu lần thứ VII Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội, Dự thảo 3, ngày 12/3/2025, Hà Nội.
14. Bùi Tiến Đạt (2020), “Quyền tự do học thuật trong giáo dục đại học”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9(409), tháng 5, truy cập ngày 05/5/2026.
15. Phan Trung Hoài (2025), “Nghề luật sư trong thế giới chuyển động không ngừng”, Tạp chí Luật sư điện tử, truy cập ngày 05/5/2026.
16. Nguyễn Thế Sang (2024), “Vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh”, Tạp chí Lý luận chính trị điện tử, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.
17. Lưu Minh Sang, Lê Hoài Nam (2021), “Mô hình tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cộng đồng thông qua chương trình giáo dục pháp luật thực hành-thực tiễn tại một số cơ sở đào tạo luật khu vực phía Nam”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Kinh tế - Luật và Quản lý, số 6(1):2184-2191, truy cập ngày 05/5/2026.
18. Trường Đại học Luật, ĐHQGHN (2025), “Quốc tế hóa chất lượng và hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học chuyên đề, Sơn La, tháng 3/2025.
19. Đào Thanh Trường, Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2025), “Đào tạo, sử dụng và thu hút nhân tài - đột phá chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Công tác lý luận của Đảng và những định hướng nghiên cứu quan trọng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
20. Thái Trung (2022), “Ðể pháp luật đi vào cuộc sống, gần gũi nhân dân”, Báo Nhân dân, Thứ Tư, ngày 09/11/2022.
21. Văn Tất Thu (2018), “Những vấn đề lý luận về phản biện chính sách công”, Tạp chí Tổ chức nhà nước và lao động online, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.
22. Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp (2025), Tư duy xây dựng pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn, khách quan, tránh tư duy “không quản được thì cấm”, đã cấm phải đưa vào luật, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.
23. Ngô Đình Xây (2021), “Dân chủ, trách nhiệm và đạo đức trong hoạt động nghiên cứu khoa học”, Tạp chí Quản lý Nhà nước online, truy cập ngày 05/5/2026, Hà Nội.