1.
Như vậy, ba khái niệm giáo dục tinh hoa, giáo dục đại chúng và giáo dục phổ cập vốn được dùng để mô tả các giai đoạn phát triển giáo dục (nói cho đúng là các giai đoạn phát triển giáo dục đại học). Theo đà phát triển của kinh tế, khoa học - công nghệ và giáo dục, tỉ lệ dân số trong độ tuổi đi học được hưởng thụ giáo dục đại học ngày càng cao: Mức trung bình của thế giới hiện nay là 30%. Các nước phát triển có tỉ lệ vượt trội: Hoa Kỳ - 95%, Australia - 80%, Singapore - 60%, Pháp - 57%. Trong số các nước đang phát triển, Trung Quốc dẫn đầu với tỉ lệ 60,8%, Thái Lan đạt tỉ lệ 48%; còn Việt Nam mới đạt 24% [Lê Viết Khuyến, 2023, tr. 9] hoặc 30% [Phạm Hiệp, 2017].
Ở Việt Nam, Nghị quyết 71/NQ-TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá và phát triển giáo dục và đào tạo chủ trương: “Giáo dục bảo đảm hài hoà giữa tính toàn dân và tinh hoa, toàn diện và chuyên sâu, dân tộc và toàn cầu.”. Căn cứ lời văn và tinh thần của Nghị quyết, có thể hiểu giáo dục tinh hoa và giáo dục toàn dân (đại chúng) là “hai cấu phần” của hệ thống giáo dục [Nguyễn Đắc Vinh, 2026]. Yêu cầu “hài hoà giữa tính toàn dân và tinh hoa, toàn diện và chuyên sâu, dân tộc và toàn cầu” này, theo chúng tôi hiểu, bao gồm cả giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, Nghị quyết 71 cũng xác định: “Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.”. Như vậy, vấn đề “đào tạo tinh hoa” mà chúng ta bàn hôm nay cần được hiểu là đào tạo ở trình độ đại học và sau đại học các chuyên gia chất lượng cao “có năng lực vượt trội, có khả năng tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, mô hình quản trị mới, từ đó dẫn dắt sự phát triển của quốc gia” [Nguyễn Đắc Vinh, 2026].
2.
Chính sách phát triển hài hoà giữa giáo dục đại chúng với giáo dục tinh hoa đã được xác lập từ các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996). Báo cáo Chính trị tại Đại hội nêu rõ: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 2011) cũng khẳng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam.”.
Về pháp luật, Luật Giáo dục đại học đã dành hẳn Điều 13 quy định sứ mạng đào tạo tinh hoa cho loại hình đại học quốc gia, đồng thời quy định điều kiện để thực hiện trách nhiệm đó:
“1) Đại học quốc gia là cơ sở giáo dục đại học công lập, có sứ mạng là trung tâm đào tạo chất lượng cao, phát triển nhân tài, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trọng điểm; thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, được Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển.
2) Đại học quốc gia giữ vai trò nòng cốt, là trụ cột của hệ thống giáo dục đại học; phát triển các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu mũi nhọn đạt trình độ tiên phong, dẫn dắt đổi mới sáng tạo, khẳng định vị thế trong khu vực và quốc tế.
3) Đại học quốc gia có tổ chức, cơ chế phù hợp được bảo đảm điều kiện cần thiết để thực hiện.”.
Ngày 15/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 281/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị, trong đó quy định nhiệm vụ “Xây dựng Đề án triển khai cơ chế, chính sách đầu tư mạnh và có các cơ chế đặc thù, vượt trội để phát triển 3 đến 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới, đào tạo nhân tài quốc gia.”. Như vậy, cùng với Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, sẽ có từ 1 đến 3 cơ sở giáo dục đại học khác được giao sứ mạng và tạo điều kiện để thực hiện sứ mạng “trung tâm đào tạo chất lượng cao, phát triển nhân tài, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trọng điểm”. Theo Nghị định số 91/2026/ NĐ-CP ngày 30/3/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học, trước hết, những cơ sở này sẽ phải đáp ứng điều kiện để được công nhận là đại học quốc gia.
Tóm lại, từ chính sách của Đảng đến pháp luật của Nhà nước đều đã tạo cơ sở chính trị và pháp lí để thực hiện đào tạo tinh hoa, thậm chí đã và sẽ tiếp tục xác định danh sách cơ sở giáo dục đại học cụ thể được giao sứ mạng này.
3.
Tuy nhiên, để thực hiện sứ mạng đào tạo tinh hoa, cơ sở giáo dục đại học cần được đầu tư mạnh, trước hết là đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay, khó có thể đòi hỏi mức đầu tư cao cho đào tạo tinh hoa như các nước phát triển nhưng đầu tư thấp, nhỏ giọt và dàn đều sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn. Để giải quyết nan đề này, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ một số nước phát triển.
Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới nhưng cũng chỉ có 8 cơ sở giáo dục thuộc nhóm đại học tinh hoa (Ivy League) là: Harvard University, Yale University, Princeton University, University of Pennsylvania và Brown University. Mặc dù những cơ sở này đều là trường tư thục nhưng có nguồn lực tài chính lớn từ quỹ tài trợ liên bang, học phí, quyên góp từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp.
Tại Pháp nhóm đại học tinh hoa (Grandes Ecoles) có số lượng lớn hơn, bao gồm hệ thống Đại học Thương mại HEC (École des hautes études commerciales), hệ thống Học viện Quốc gia về Khoa học Ứng dụng INSA (Institut National des Sciences Appliquées), hệ thống Đại học Sư phạm ENS (École Normale Supérieure) với chế độ thi tuyển rất khắt khe, trong khi các đại học khác đều áp dụng chế độ ghi danh. Nguồn đầu tư cho các Grandes Écoles đến từ tài trợ của nhà nước, học phí và nguồn đầu tư của tư nhân, doanh nghiệp.
Ở Singapore, vào đầu những năm 1960, khi đất nước còn nghèo, Chính phủ dồn lực cho Đại học Singapore (sau này là Đại học Quốc gia Singapore) để đào tạo nguồn nhân lực đa ngành chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; năm 1985 dồn lực xây dựng Đại học Công nghệ Nanyang để đào tạo nhân lực khoa học kỹ thuật, giúp chiếm ưu thế trong các lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ mũi nhọn. Từ năm 2000, Singapore tập trung cho Đại học Quản trị SMU để đào tạo các nhà quản trị tài năng. Gần đây, Singapore tập trung xây dựng Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore thành lập năm 2015 nhằm thúc đẩy sự sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, nuôi dưỡng và phát triển các nhà sáng tạo, các nhà lãnh đạo kỹ thuật, ... [Phạm Mạnh Hùng, 2023].
Ở nước ta, trong bối cảnh Chính phủ quyết định đầu tư mạnh để phát triển từ 3 đến 5 đại học tinh hoa, mỗi cơ sở giáo dục được giao trách nhiệm này, trước mắt, chỉ nên chọn một vài ngành khoa học - công nghệ mũi nhọn và xác định lộ trình đầu tư phát triển các ngành khác một cách phù hợp với yêu cầu phát triển và hoàn cảnh kinh tế của đất nước.
Cùng với đầu tư mạnh từ Nhà nước, cơ sở giáo dục có thể thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp và tăng dần vốn đầu tư từ chính các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của mình. Đây là một giải pháp đã được nêu ra từ lâu và tái khẳng định trong Nghị quyết 71 ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị: “Xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh hợp tác công tư; mở rộng hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cơ sở nghiên cứu, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước; ưu tiên vốn tín dụng cho các dự án phát triển giáo dục và đào tạo. Xây dựng khung khổ pháp lý để hình thành quỹ tài trợ cho các cơ sở giáo dục huy động vốn cộng đồng.”. Tuy nhiên, cho đến nay, Luật Giáo dục đại học mới chỉ có quy định chung về liên kết giữa cơ sở giáo dục với doanh nghiệp. Để quy định này được triển khai trong thực tiễn, chắc chắn phải bổ sung vào Luật Giáo dục đại học và một số luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế quy định cụ thể hơn về thuế, ví dụ: miễn giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục, đào tạo theo tỉ lệ đầu tư.
4.
Cùng với yêu cầu tăng mạnh đầu tư, Nghị quyết số 281 ngày 15/9/2025 của Chính phủ còn yêu cầu xây dựng “các cơ chế đặc thù, vượt trội” để cơ sở giáo dục đại học thực hiện sứ mạng đào tạo tinh hoa.
Trước hết, cơ sở giáo dục đào tạo tinh hoa cần được giao quyền tự chủ ở mức cao. Khoản 1 Điều 14 Luật Giáo dục đại học quy định cơ sở giáo dục đại học được tự chủ thực hiện các quyền hạn sau đây:
“a) Xác định số lượng tuyển sinh, lựa chọn phương thức tuyển sinh, tổ chức đào tạo, liên kết đào tạo, cấp văn bằng khi đáp ứng điều kiện bảo đảm chất lượng, trừ các ngành đào tạo giáo viên, quốc phòng và an ninh;
b) Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, sử dụng, khai thác hợp pháp tài sản, tài nguyên, sở hữu trí tuệ, hoạt động hợp tác quốc tế;
c) Thực hiện nội dung thu, chi, phân phối kết quả tài chính, quản lý tài sản, đầu tư phát triển, huy động các nguồn lực hợp pháp với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật, trừ các cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
d) Xác định số lượng người làm việc, tuyển dụng các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước làm việc tại cơ sở, trừ các cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
đ) Được tổ chức thực hiện các trình độ đào tạo khác khi đáp ứng
quy định của pháp luật có liên quan và của Chính phủ;
e) Thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
Tuy nhiên, những quyền hạn đã nêu chỉ được thực hiện khi có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành, như quy định tại khoản 4 điều luật nói trên: “Chính phủ quy định chi tiết điều này.”. Văn bản duy nhất cho đến nay hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học là Nghị định số 91/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 của Chính phủ chưa có điều nào quy định chi tiết về thực hiện quyền tự chủ.
Để trở thành cơ sở giáo dục đại học đào tạo tinh hoa, các đại học trọng điểm cần thực hiện quốc tế hoá chương trình đào tạo; mời chuyên gia tư vấn; tuyển dụng các nhà khoa học, nhà giáo giỏi từ các nước phát triển; … Có quyền tự chủ ở mức độ cao, cơ sở giáo dục mới có thể nhập khẩu được chương trình đào tạo tiên tiến, trả lương xứng đáng cho chuyên gia tư vấn và giảng viên có trình độ cao từ nước ngoài. Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục cũng cần được quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, trả lương cao cho những đối tượng xuất sắc khác trong nước; cử cán bộ trẻ xuất sắc đi học nước ngoài để đa dạng hoá nguồn đào tạo. Ở nhiều nước, sinh viên tốt nghiệp đại học ít khi được học sau đại học ở trường cũ, mà phải chuyển sang học cao học hoặc làm nghiên cứu sinh ở trường khác. Người ta cũng không chỉ giữ sinh viên, học viên sau đại học của riêng trường mình ở lại trường mà đa dạng hoá nguồn tuyển dụng, tránh tình trạng toàn bộ nhân sự giảng viên trong một ngành của trường chỉ học tại một cơ sở đào tạo, học một số thầy và khó phát triển dưới bóng của các “cây đa cây đề” trong ngành.
5.
Cuối cùng là việc sử dụng nguồn nhân lực được thụ hưởng đào tạo tinh hoa. Trong một buổi làm việc với tôi tại Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cách đây 15 năm, Giáo sư Thomas Vallely - lúc đó là Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard, chủ trì Báo cáo về giáo dục đại học Việt Nam - có giới thiệu với tôi kinh nghiệm sử dụng nhân sự của Trung Quốc và coi đó là điều Việt Nam nên học hỏi. Theo Giáo sư, các sinh viên và học viên sau đại học Trung Quốc tốt nghiệp Đại học Harvard về nước đều được Chính phủ đối đãi theo chế độ đối với nhân tài: Họ được tuyển dụng ngay, kết nạp Đảng và giao nhiệm vụ quan trọng. Chính vì vậy mà anh chị em này phát huy được tác dụng. Cũng chính vì vậy, sinh viên, học viên sau đại học Trung Quốc sau khi tốt nghiệp ở Hoa Kỳ hầu như không có ai ở lại mà đều về nước phục vụ.
Theo tôi, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên nghiên cứu vấn đề này, tham mưu với Chính phủ để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Quốc hội bổ sung quy định về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng và đãi ngộ nhân lực đào tạo từ các cơ sở giáo dục trọng điểm để phát huy tác dụng của nguồn nhân lực này, tạo điều kiện cho họ phát triển, cống hiến cho khoa học, cho đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996.
2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 2011.
3. Lê Viết Khuyến, Nghĩ về lối đi của giáo dục đại học Việt Nam, NXB Thông tin và Truyền thông, 2023.
4. Luật Giáo dục đại học, 2025.
5. Nghị định số 91/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
6. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá và phát triển giáo dục và đào tạo.
7. Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị.
8. Nguyễn Đắc Vinh, Giáo dục tinh hoa và giáo dục đại chúng không phải 2 mô hình đối lập, mà là 2 cấu phần tất yếu của một hệ thống giáo dục hiện đại, nld.vn, 15/02/2026.
9. Phạm Hiệp, Giáo dục đại học sẽ không phát triển nếu vẫn vận hành theo kiểu “tinh hoa”, cand.vn, 17/11/2017.
10. Phạm Mạnh Hùng, Singapore vươn lên giáo dục đại học đẳng cấp thế giới như thế nào?, Tuần Việt Nam, 30/8/2023.