VNU Logo
Thư viện sốVNU OfficeE-mailIT ServicesSitemap
  • Logo
  • Giới thiệu
    • Tổng quan
      • Lịch sử
      • Sứ mạng - Tầm nhìn
      • Chiến lược phát triển
      • Thi đua - Khen thưởng
      • Số liệu thống kê
      • Bản đồ Hà Nội
      • Các cơ sở của ĐHQGHN
      • Website kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN
    • Cơ cấu tổ chức
      • Sơ đồ tổ chức
      • Ban Giám đốc
      • Đảng ủy
      • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
      • Văn phòng & ban chức năng
      • Công đoàn ĐHQGHN
      • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
      • Các trường đại học thành viên
      • Các trường thuộc
      • Các đơn vị nghiên cứu khoa học
      • Các trung tâm đào tạo môn chung
      • Các đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
      • Văn bản pháp quy
      • Thủ tục hành chính trực tuyến
    • Ba công khai
      • Chất lượng đào tạo
      • Cơ sở vật chất
      • Tài chính
      • Số liệu tổng hợp
    • Báo cáo thường niên ĐHQGHN
    • Ấn phẩm Giới thiệu ĐHQGHN
    • Video
    • Logo ĐHQGHN
    • Bài hát truyền thống
    • Tiến sĩ danh dự của ĐHQGHN
  • Đào tạo
    • Giới thiệu chung
    • Kế hoạch học tập và giảng dạy
    • Chương trình đào tạo bậc đại học
    • Chương trình đào tạo thạc sĩ
    • Chương trình đào tạo tiến sĩ
    • Chương trình đào tạo liên kết
    • Đào tạo hệ THCS và THPT
    • Số liệu thống kê
    • Mẫu văn bằng
    • Văn bản liên quan
  • Khoa học công nghệ
    • Giới thiệu chung
    • Hoạt động Khoa học - Công nghệ
    • Chiến lược KHCN&ĐMST 2021-2030
    • Chương trình, dự án, đề tài
      • Chương trình KHCN cấp Nhà nước
      • Đề tài cấp Nhà nước
      • Chương trình KHCN cấp ĐHQGHN
      • Đề tài cấp ĐHQGHN
      • Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
      • Nghiên cứu ứng dụng
    • Hệ thống phòng thí nghiệm
    • Nhóm nghiên cứu
    • Các hội đồng chuyên môn
    • Quỹ phát triển khoa học & công nghệ
      • Giới thiệu
      • Điều lệ, tổ chức hoạt động
    • Giải thưởng Khoa học - Công nghệ
      • Giải thưởng Hồ Chí Minh
      • Giải thưởng Nhà nước
      • Giải thưởng quốc tế
      • Giải thưởng ĐHQGHN
      • Giải thưởng khoa học sinh viên
      • Các giải thưởng khác
    • Các sản phẩm KHCN
      • Các ấn phẩm
      • Sở hữu trí tuệ
      • Các sản phẩm công nghệ, kỹ thuật
      • Bài báo khoa học
    • Chuyển giao tri thức & hỗ trợ khởi nghiệp
    • Văn bản liên quan
  • Hợp tác & phát triển
    • Giới thiệu chung
      • Lời giới thiệu
      • Đội ngũ
      • Bản tin hợp tác phát triển - PDF
    • Hợp tác quốc tế
      • Đối tác quốc tế
        • Châu Á
        • Châu Âu
        • Châu Đại dương
        • Châu Mỹ
      • Chương trình hợp tác
        • Trao đổi & học bổng
        • Hợp tác nghiên cứu
        • Hội nghị - Hội thảo
      • Mạng lưới hợp tác quốc tế
        • AUF
        • AUN
        • ASAIHL
        • BESETOHA
        • CONFRASIE
        • UMAP
        • SATU
      • Các thỏa thuận hợp tác quốc tế
    • Hợp tác trong nước
      • Các đối tác trong nước
      • Các dự án trong nước
        • Danh mục các nhiệm vụ KHCN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương
        • Trường ĐH Khoa học Tự nhiên
        • Trường ĐH Công nghệ
        • Trường ĐH Kinh tế
        • Viện Việt Nam học và KHPT
        • Viện Vi sinh vật và CNSH
    • Văn bản quản lý
      • Văn bản liên quan
      • Sổ tay Hợp tác quốc tế
  • Sinh viên
    • Giới thiệu chung
    • Học bổng
      • Trong nước
      • Ngoài nước
      • Quy định
      • Tin tức
      • Đăng ký học bổng
    • Hỗ trợ sinh viên
      • Đoàn - Hội
      • Đời sống
      • Các câu lạc bộ
      • Tư vấn, hỗ trợ việc làm
      • Vay vốn
      • Ký túc xá sinh viên
    • Chương trình trao đổi sinh viên
    • Cựu sinh viên
    • Văn bản - Biểu mẫu
  • Cán bộ
    • Giới thiệu chung
    • Số liệu thống kê
      • Theo đối tượng, vị trí việc làm
      • Theo chức danh khoa học và trình độ đào tạo
    • Danh hiệu nhà giáo
      • Nhà giáo Nhân dân
      • Nhà giáo Ưu tú
    • Đội ngũ GS, PGS
      • Các Giáo sư
      • Các Phó giáo sư
    • Tuyển dụng
      • Kênh thu hút nhà khoa học
      • Ứng tuyển & hợp tác
      • Vị trí tuyển dụng
      • Thông tin hữu ích
      • Liên hệ, đề xuất
    • Văn bản liên quan
  • Các đơn vị thành viên
    • Trường đại học thành viên
      • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
      • Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
      • Trường Đại học Ngoại ngữ
      • Trường Đại học Công nghệ
      • Trường Đại học Kinh tế
      • Trường Đại học Giáo dục
      • Trường Đại học Việt Nhật
      • Trường Đại học Y Dược
      • Trường Đại học Luật
    • Trường trực thuộc
      • Trường Quản trị và Kinh doanh
      • Trường Quốc tế
      • Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật
    • Viện nghiên cứu
      • Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
      • Viện Tài nguyên và Môi trường
      • Viện Công nghệ thông tin
      • Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
      • Viện Trần Nhân Tông
      • Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo
        • Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến
        • Viện Nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển bền vững
        • Viện Công nghệ Lượng tử
        • Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ trợ khởi nghiệp
        • Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực
        • Trung tâm hỗ trợ sinh viên
    • Trung tâm đào tạo trực thuộc
      • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
      • Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao
    • Đơn vị phục vụ, dịch vụ
      • Ban Quản lý dự án
      • Ban Quản lý Dự án World Bank
      • Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
      • Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục
      • Trung tâm Quản lý đô thị đại học
      • Trung tâm Thư viện và Tri thức số
      • Tạp chí Khoa học
      • Viện Đào tạo số và Khảo thí
    • Đơn vị khác
      • Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á
      • Văn phòng Hợp tác ĐHQGHN - ĐH Arizona
      • Văn phòng các chương trình KH&CN trọng điểm ĐHQGHN
      • Quỹ Phát triển KH&CN
      • Quỹ Phát triển ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN
      • Câu lạc bộ Cựu sinh viên
VNU Logo

Giấy phép số 993/GP-TTĐT ngày 20/3/2020 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Khu đô thị Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hòa Lạc, Hà Nội

 media@vnu.edu.vn

 

Thứ tư13-05-2026
|120 năm truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (1906-2016)Hội thảo "Từ đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội: Truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa"

Từ di sản thuộc địa đến đại học nghiên cứu hiện đại: Hành trình 120 năm kiến tạo tri thức và tinh hoa học thuật quốc gia của ĐHQGHN

1. Đặt vấn đềNăm 2026 đánh dấu 120 năm kể từ khi Đại học Đông Dương được thành lập tại Hà Nội. Trong diễn ngôn học thuật và truyền thông đại học, mốc thời gian này thường được nhìn nhận như nền tảng lịch sử của Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong hai đại học quốc gia của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chỉ xem 120 năm như một chuỗi niên đại tuyến tính, nghiên cứu có thể bỏ qua vấn đề quan trọng hơn: bằng cách nào một thiết chế giáo dục được khai sinh trong bối cảnh thuộc địa, sau nhiều lần chuyển hóa thể chế, lại trở thành một biểu tượng của đào tạo tinh hoa, nghiên cứu liên ngành và phụng sự quốc gia trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay?

Câu hỏi trên có ý nghĩa khoa học vì lịch sử đại học không chỉ là lịch sử của tên gọi, cơ sở vật chất hay văn bản hành chính. Lịch sử đại học còn là lịch sử của cách một xã hội định nghĩa tri thức, tuyển chọn và đào tạo nhân tài, tổ chức nghiên cứu, cũng như phân bổ thẩm quyền học thuật giữa nhà nước, thị trường và cộng đồng khoa học. Với Đại học Quốc gia Hà Nội, tính đặc thù nằm ở chỗ truyền thống 120 năm không đồng nhất với một đường thẳng pháp nhân liên tục, mà là một dòng kế thừa nhiều tầng: Đại học Đông Dương năm 1906; Đại học Quốc gia Việt Nam sau năm 1945; Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1956; và Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức lại theo mô hình đại học quốc gia từ năm 1993 (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023, 2025a; Chính phủ, 1993).

Chủ đề đào tạo tinh hoa vì vậy cần được tiếp cận thận trọng. Trong giáo dục đại học hiện đại, “tinh hoa” không nên được hiểu như đặc quyền khép kín của một nhóm xã hội, mà là năng lực công của một thiết chế đại học trong việc phát hiện, bồi dưỡng và kết nối những cá nhân có năng lực học thuật, năng lực lãnh đạo và năng lực phụng sự. Theo nghĩa đó, đào tạo tinh hoa không tách rời trách nhiệm mở rộng cơ hội, liêm chính học thuật và đóng góp cho phát triển quốc gia. Cách hiểu này phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học đã chuyển từ mô hình tinh hoa hẹp sang mô hình đại chúng và phổ cập hơn, nhưng vẫn cần các đại học nghiên cứu có khả năng dẫn dắt chuẩn mực học thuật và tạo ra tri thức mới (Trow, 1973; Marginson, 2016).

Đối tượng nghiên cứu của bài viết là truyền thống đào tạo tinh hoa của Đại học Quốc gia Hà Nội trong quan hệ kế thừa từ Đại học Đông Dương đến hiện nay. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở dòng phát triển thể chế đặt trọng tâm tại Hà Nội trong giai đoạn 1906-2026, với sự tham chiếu đến các văn bản chính sách, tư liệu lịch sử công khai, định hướng chiến lược của Đại học Quốc gia Hà Nội và các lý thuyết quốc tế về đại học nghiên cứu, đại học tinh hoa và vốn học thuật. Bài viết không nhằm tái dựng toàn bộ lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, cũng không đánh giá định lượng chất lượng đào tạo của từng đơn vị thành viên. Mục tiêu chính là xây dựng một luận giải học thuật về truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa như một nguồn lực thể chế có thể tiếp tục được chuyển hóa thành năng lực phát triển trong giai đoạn mới.

Từ mục tiêu đó, bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi nghiên cứu. Thứ nhất, những yếu tố kế thừa và đứt gãy nào định hình dòng phát triển từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội? Thứ hai, truyền thống đào tạo tinh hoa được biểu hiện qua những chiều cạnh học thuật và thể chế nào? Thứ ba, truyền thống này gợi mở những hàm ý gì cho chiến lược phát triển đại học nghiên cứu, quản trị nhân tài và hội nhập quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu?

2. Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu

Về mặt lý luận, bài viết dựa trên ba cụm khái niệm: truyền thống học thuật, đào tạo tinh hoa và đại học nghiên cứu mang sứ mệnh quốc gia. Truyền thống học thuật được hiểu là tập hợp các ký ức thể chế, chuẩn mực chuyên môn, mô hình tổ chức tri thức và biểu tượng chính danh được tích lũy qua thời gian. Shils (1981) cho rằng truyền thống không phải là sự lặp lại thụ động quá khứ, mà là quá trình tiếp nhận, lựa chọn và tái diễn giải những yếu tố được xem là có giá trị. Theo cách tiếp cận này, truyền thống 120 năm của Đại học Quốc gia Hà Nội cần được hiểu như một nguồn lực động: nó vừa neo giữ bản sắc, vừa tạo nền cho đổi mới.

Khái niệm “đào tạo tinh hoa” có thể được tiếp cận từ lý thuyết vốn học thuật và tái sản xuất xã hội. Bourdieu (1986) chỉ ra rằng giáo dục là không gian tích lũy và chuyển hóa các dạng vốn, trong đó vốn văn hóa, vốn xã hội và vốn biểu tượng có vai trò quan trọng đối với sự hình thành tầng lớp tinh hoa. Tuy nhiên, trong bối cảnh đại học công hiện đại, việc đào tạo tinh hoa không thể chỉ được lý giải như sự tái sản xuất đặc quyền. Nhiệm vụ của đại học là chuyển hóa năng lực cá nhân thành năng lực xã hội, thông qua chuẩn mực học thuật, đạo đức công vụ, năng lực nghiên cứu và trách nhiệm đối với cộng đồng. Nói cách khác, tinh hoa trong đại học công phải được định nghĩa bởi năng lực cống hiến, không chỉ bởi vị thế xã hội.

Cụm khái niệm thứ ba liên quan đến đại học nghiên cứu, đại học hàng đầu và đại học có sứ mệnh quốc gia. Kerr (2001) mô tả đại học hiện đại như một “multiversity” - thiết chế đa chức năng kết nối đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ xã hội và quan hệ với nhà nước, doanh nghiệp. Clark (1998) nhấn mạnh năng lực đổi mới tổ chức của đại học trong điều kiện nguồn lực và kỳ vọng xã hội biến đổi. Meyer và cộng sự (2007) xem đại học như một thiết chế toàn cầu hóa mạnh mẽ, còn Geiger (2004) nhấn mạnh quan hệ giữa nghiên cứu, nguồn lực và thị trường tri thức. Salmi (2009) và Altbach và Salmi (2011) cho rằng một đại học đẳng cấp cao thường cần ba điều kiện: tập trung tài năng, nguồn lực dồi dào và quản trị thuận lợi. Đối với các nước đang phát triển, Altbach (2013) lưu ý vai trò của đại học nghiên cứu trong việc xây dựng năng lực quốc gia, đào tạo chuyên gia trình độ cao và tham gia mạng lưới tri thức toàn cầu.

Trong các nghiên cứu về đại học hàng đầu, Douglass (2016) đề xuất khái niệm “đại học flagship mới”, nhấn mạnh rằng đại học hàng đầu không chỉ chạy theo bảng xếp hạng quốc tế mà phải gắn với nhu cầu phát triển của quốc gia và khu vực. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội, bởi mô hình đại học quốc gia được thiết kế không chỉ để cạnh tranh học thuật, mà còn để thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong đào tạo nhân tài, nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách. Do đó, truyền thống đào tạo tinh hoa của Đại học Quốc gia Hà Nội cần được đặt trong quan hệ giữa ba trục: xuất sắc học thuật, trách nhiệm quốc gia và hội nhập quốc tế.

Tổng quan các tài liệu công khai về Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy dòng lịch sử của thiết chế này thường được trình bày qua các mốc quan trọng. Đại học Đông Dương được thành lập ngày 16/5/1906 theo Nghị định số 1514a của Toàn quyền Đông Dương, đặt trụ sở tại số 19 phố Lê Thánh Tông, Hà Nội (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023). Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở cửa lại Đại học Đông Dương với tên mới là Đại học Quốc gia Việt Nam; ngày 15/11/1945 diễn ra lễ khai giảng khóa đầu tiên của đại học này (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023). Giai đoạn tiếp theo gắn với Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1956 và quá trình tổ chức lại thành Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 12/1993 (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2025a; Chính phủ, 1993).

Các tài liệu của Đại học Quốc gia Hà Nội cũng nhấn mạnh định hướng hiện nay về đại học nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển tinh hoa. Chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được ban hành theo Quyết định số 800/QĐ-ĐHQGHN năm 2021, hướng tới việc phát huy thành tựu, khắc phục hạn chế và xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với vai trò, vị thế trong bối cảnh phát triển mới (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021). Đến giai đoạn 2026-2035, các tài liệu chiến lược nhấn mạnh các trụ cột như đổi mới quản trị, phát triển đội ngũ nhân tài, nghiên cứu xuất sắc gắn với đào tạo tinh hoa, tài chính bền vững, hạ tầng số hiện đại và đô thị đại học Hòa Lạc (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2026a).

Mặc dù vậy, khoảng trống nghiên cứu còn khá rõ. Nhiều bài viết hiện có thiên về kỷ niệm lịch sử, giới thiệu thành tựu hoặc khẳng định tính kế thừa giữa Đại học Đông Dương và Đại học Quốc gia Hà Nội (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016a, 2016b; Vietnam News Agency, 2016). Ít công trình phân tích truyền thống 120 năm như một cấu trúc học thuật - thể chế, trong đó yếu tố “đào tạo tinh hoa” được xem xét qua các lớp kế thừa, đứt gãy và tái định nghĩa. Bài viết này đóng góp bằng cách kết hợp tư liệu lịch sử, chính sách phát triển đại học và lý thuyết quốc tế về đại học nghiên cứu để giải thích vì sao truyền thống đào tạo tinh hoa của Đại học Quốc gia Hà Nội vừa có giá trị biểu tượng, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển quốc gia.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng thiết kế nghiên cứu định tính theo hướng nghiên cứu trường hợp lịch sử - thể chế. Trường hợp được lựa chọn là Đại học Quốc gia Hà Nội trong dòng kế thừa từ Đại học Đông Dương, bởi đây là một thiết chế có chiều sâu lịch sử đặc biệt, đồng thời đang giữ vai trò trung tâm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Cách tiếp cận trường hợp cho phép phân tích sâu quan hệ giữa lịch sử, chính sách, bản sắc học thuật và chiến lược phát triển, thay vì chỉ đo lường kết quả qua một số chỉ báo định lượng ngắn hạn.

Nguồn dữ liệu chính gồm bốn nhóm. Nhóm thứ nhất là tư liệu lịch sử và giới thiệu chính thức của Đại học Quốc gia Hà Nội về Đại học Đông Dương, Đại học Quốc gia Việt Nam, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhóm thứ hai là văn bản thể chế, đặc biệt là Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 về việc thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhóm thứ ba là các tài liệu chiến lược của Đại học Quốc gia Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và các tài liệu chiến lược giai đoạn 2026-2035. Nhóm thứ tư là các công trình lý thuyết quốc tế về đại học nghiên cứu, đại học tinh hoa, vốn học thuật, truyền thống và đại học có sứ mệnh quốc gia.

Về kỹ thuật phân tích, bài viết kết hợp phân tích tài liệu, phân kỳ lịch sử và truy vết quá trình. Phân tích tài liệu được dùng để xác định các mốc lịch sử, ngôn ngữ thể chế và các khái niệm then chốt như “đại học quốc gia”, “đào tạo tinh hoa”, “nghiên cứu xuất sắc” và “phụng sự quốc gia”. Phân kỳ lịch sử được dùng để chia tiến trình 1906-2026 thành các giai đoạn có logic thể chế tương đối khác nhau. Truy vết quá trình được dùng để lý giải cách các yếu tố kế thừa và đứt gãy đã chuyển hóa qua từng giai đoạn, từ đó hình thành truyền thống hiện nay.

Nghiên cứu có một số giới hạn. Thứ nhất, bài viết không sử dụng dữ liệu phỏng vấn hoặc khảo sát cựu sinh viên, giảng viên và nhà quản lý, do đó chưa thể đo lường trực tiếp trải nghiệm chủ quan của các nhóm liên quan. Thứ hai, các chỉ báo về xếp hạng, quốc tế hóa hoặc năng suất nghiên cứu chỉ được sử dụng như dữ liệu bối cảnh, không phải bằng chứng quyết định về chất lượng đào tạo tinh hoa. Thứ ba, việc truy nguyên từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội được tiếp cận như một dòng truyền thống học thuật và biểu tượng thể chế, không đồng nhất giản đơn với sự liên tục pháp nhân. Cách giới hạn này giúp tránh khuynh hướng thần thoại hóa lịch sử, đồng thời vẫn cho phép nhận diện giá trị kế thừa của một thiết chế đại học có tầm vóc quốc gia.

4. Kết quả nghiên cứu và phân tích

4.1. Dòng kế thừa lịch sử: từ thiết chế thuộc địa đến biểu tượng đại học quốc gia

Kết quả phân tích cho thấy truyền thống 120 năm của Đại học Quốc gia Hà Nội được hình thành qua bốn lớp kế thừa.

Lớp kế thừa thứ nhất là Đại học Đông Dương, ra đời năm 1906 trong bối cảnh chính quyền thuộc địa Pháp cần xây dựng một hệ thống đào tạo nhân lực hiện đại phục vụ bộ máy hành chính và chuyên môn. Tính hiện đại của thiết chế này thể hiện ở mô hình đại học theo ngành, sử dụng tri thức khoa học và chuyên môn hóa nghề nghiệp như cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, tính hiện đại ấy mang tính hai mặt: nó mở ra không gian giáo dục bậc cao kiểu mới tại Đông Dương, nhưng đồng thời bị giới hạn bởi mục tiêu cai trị và cấu trúc bất bình đẳng của chế độ thuộc địa.

Chính sự hiện đại mang tính hai mặt này làm cho Đại học Đông Dương trở thành một điểm khởi đầu phức tạp. Nếu tiếp cận theo lịch sử thuộc địa, không thể lãng mạn hóa nó như một thiết chế dân tộc ngay từ đầu. Nhưng nếu tiếp cận theo lịch sử tri thức, không thể phủ nhận rằng nó đặt nền móng cho việc hình thành một không gian đại học hiện đại tại Việt Nam, nơi các chuẩn mực về chuyên môn, văn bằng, giảng dạy theo ngành và tiếp xúc với tri thức quốc tế bắt đầu được thể chế hóa. Truyền thống đào tạo tinh hoa sau này của Đại học Quốc gia Hà Nội vì vậy không kế thừa mục tiêu thuộc địa, mà kế thừa và tái nghĩa hóa nền tảng thể chế của đại học hiện đại.

Lớp kế thừa thứ hai xuất hiện sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi Đại học Đông Dương được mở lại với tên Đại học Quốc gia Việt Nam. Mốc 15/11/1945 có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: tri thức đại học được đặt trong khuôn khổ chủ quyền quốc gia mới, và đại học trở thành một thiết chế của nền cộng hòa non trẻ. Từ đây, đào tạo tinh hoa không còn được biện minh bằng nhu cầu hành chính thuộc địa, mà bằng yêu cầu kiến tạo quốc gia, đào tạo trí thức và xây dựng năng lực tự chủ của một dân tộc giành độc lập. Sự chuyển hóa này là một bước ngoặt trong chính danh học thuật: đại học không chỉ là nơi truyền đạt tri thức, mà là nơi hình thành tầng lớp trí thức gắn với vận mệnh quốc gia.

Lớp kế thừa thứ ba gắn với Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1956. Trong bối cảnh kiến thiết đất nước và phát triển khoa học cơ bản, mô hình đại học tổng hợp nhấn mạnh nền tảng khoa học, đào tạo chuyên gia và xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu. Nếu Đại học Đông Dương đặt nền móng cho đại học hiện đại, Đại học Tổng hợp Hà Nội củng cố truyền thống hàn lâm và khoa học cơ bản. Đây là giai đoạn quan trọng trong việc hình thành văn hóa học thuật của các ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, tạo ra đội ngũ trí thức có ảnh hưởng lâu dài trong giáo dục, nghiên cứu và quản lý nhà nước.

Lớp kế thừa thứ tư là sự ra đời của Đại học Quốc gia Hà Nội theo Nghị định số 97/CP năm 1993. Sự kiện này không đơn thuần là thay đổi tên gọi, mà là tái cấu trúc mô hình đại học theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, có tư cách pháp nhân và cơ chế hoạt động đặc thù. Từ đây, truyền thống tinh hoa được đặt trong bối cảnh mới: cạnh tranh quốc tế, tự chủ đại học, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và phục vụ phát triển quốc gia. Nói cách khác, năm 1993 đánh dấu sự chuyển dịch từ truyền thống hàn lâm của đại học tổng hợp sang mô hình đại học quốc gia có nhiệm vụ tích hợp đào tạo, nghiên cứu và chính sách.

4.2. Năm chiều cạnh của truyền thống đào tạo tinh hoa

Từ bốn lớp kế thừa nêu trên, có thể nhận diện năm chiều cạnh chính của truyền thống đào tạo tinh hoa tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Chiều cạnh thứ nhất là tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài. Truyền thống này không chỉ nằm ở cơ chế tuyển sinh chọn lọc, mà còn ở văn hóa kỳ vọng cao, chuẩn mực học thuật nghiêm túc và môi trường khuyến khích người học vượt qua giới hạn của đào tạo nghề nghiệp thông thường. Trong một đại học có sứ mệnh quốc gia, nhân tài không chỉ là người đạt thành tích học tập cao, mà còn là người có năng lực giải quyết vấn đề phức hợp và đóng góp cho cộng đồng.

Chiều cạnh thứ hai là nền tảng khoa học cơ bản và tư duy liên ngành. Đại học Quốc gia Hà Nội thừa hưởng truyền thống đại học tổng hợp, trong đó khoa học cơ bản giữ vai trò nền móng cho đào tạo trình độ cao. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đòi hỏi nền tảng đó phải được mở rộng theo hướng liên ngành và xuyên ngành. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, an ninh phi truyền thống, đô thị thông minh, y sinh học hay phát triển bền vững đều vượt ra ngoài biên giới của một ngành đơn lẻ. Do đó, đào tạo tinh hoa trong thế kỷ XXI cần kết hợp chiều sâu chuyên môn với năng lực liên kết tri thức.

Chiều cạnh thứ ba là gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo. Một đại học tinh hoa không thể chỉ truyền đạt tri thức đã có, mà phải đưa người học vào quá trình tạo ra tri thức mới. Đây là điểm phân biệt giữa đào tạo đại học thông thường và đào tạo trong môi trường đại học nghiên cứu. Khi sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh được tham gia dự án nghiên cứu, tiếp xúc với câu hỏi mở, dữ liệu thực chứng và chuẩn mực công bố khoa học, họ không chỉ học nội dung mà còn học phương pháp tư duy. Chính quá trình này tạo ra vốn học thuật bền vững.

Chiều cạnh thứ tư là tính quốc gia và trách nhiệm công. Đại học Quốc gia Hà Nội không thể chỉ đo lường thành công bằng số lượng bài báo quốc tế hay thứ hạng trong các bảng xếp hạng. Các chỉ báo đó quan trọng, nhưng chưa đủ. Truyền thống đào tạo tinh hoa của một đại học quốc gia phải được đánh giá bằng khả năng cung cấp nhân lực trình độ cao cho khu vực công, doanh nghiệp, giáo dục, khoa học công nghệ và các lĩnh vực chiến lược; khả năng tư vấn chính sách; và khả năng tạo ra chuẩn mực học thuật cho hệ thống giáo dục đại học. Đây là điểm khác biệt giữa một cơ sở giáo dục đại học thông thường và một đại học quốc gia.

Chiều cạnh thứ năm là quốc tế hóa có chọn lọc. Ngay từ Đại học Đông Dương, yếu tố quốc tế đã hiện diện trong mô hình tổ chức và chương trình đào tạo, dù khi đó bị chi phối bởi cấu trúc thuộc địa. Trong giai đoạn hiện nay, quốc tế hóa cần được tái định nghĩa theo hướng bình đẳng hơn: tham gia mạng lưới khoa học toàn cầu, thu hút học giả và sinh viên quốc tế, thúc đẩy công bố chung, đồng thời phát triển các chương trình nghiên cứu xuất phát từ vấn đề của Việt Nam và khu vực. Quốc tế hóa không nên đồng nghĩa với sao chép mô hình bên ngoài, mà là năng lực đối thoại và đóng góp tri thức từ vị trí của Việt Nam.

4.3. Tái định nghĩa “tinh hoa” trong bối cảnh đại chúng hóa giáo dục đại học

Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là khái niệm “đào tạo tinh hoa” cần được tái định nghĩa trong bối cảnh giáo dục đại học đã mở rộng mạnh mẽ. Ở giai đoạn đầu của đại học hiện đại, tinh hoa thường gắn với số lượng người học rất hạn chế, địa vị xã hội và chức năng đào tạo quan lại hoặc chuyên gia phục vụ bộ máy nhà nước. Trong giai đoạn đại chúng hóa, cách hiểu đó không còn phù hợp. Nếu tinh hoa được hiểu như sự loại trừ, nó sẽ mâu thuẫn với mục tiêu công bằng giáo dục. Nếu tinh hoa được hiểu như sự xuất sắc có trách nhiệm, nó có thể bổ trợ cho mục tiêu mở rộng cơ hội.

Đối với Đại học Quốc gia Hà Nội, tái định nghĩa tinh hoa có thể dựa trên bốn tiêu chí. Một là năng lực học thuật xuất sắc, thể hiện ở tư duy độc lập, phương pháp nghiên cứu và khả năng tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Hai là năng lực liên ngành, thể hiện ở khả năng kết nối khoa học tự nhiên, công nghệ, xã hội, nhân văn, kinh tế và chính sách. Ba là đạo đức công và trách nhiệm xã hội, thể hiện ở việc sử dụng tri thức để phục vụ con người và đất nước. Bốn là năng lực lãnh đạo tri thức, thể hiện ở khả năng tạo ảnh hưởng tích cực trong tổ chức, cộng đồng và mạng lưới học thuật.

Cách hiểu này giúp giải quyết một căng thẳng thường gặp trong chính sách giáo dục đại học: làm thế nào để vừa xây dựng các chương trình đào tạo tinh hoa, vừa không tạo ra cảm giác đặc quyền hoặc tách rời xã hội. Câu trả lời không nằm ở việc hạ thấp chuẩn mực, mà ở việc thiết kế cơ chế tuyển chọn minh bạch, hỗ trợ tài chính và học thuật cho người học có tiềm năng từ nhiều nền tảng khác nhau, đồng thời gắn đào tạo tinh hoa với các nhiệm vụ phục vụ cộng đồng. Khi đó, tinh hoa trở thành một cam kết phụng sự, không phải một nhãn hiệu địa vị.

4.4. Từ di sản học thuật đến năng lực cạnh tranh hiện nay

Trong bối cảnh cạnh tranh đại học khu vực và toàn cầu, truyền thống 120 năm chỉ có ý nghĩa chiến lược nếu được chuyển hóa thành năng lực hiện tại. Các bảng xếp hạng đại học cho thấy Đại học Quốc gia Hà Nội đã cải thiện vị thế khu vực; chẳng hạn, trong QS Asia University Rankings 2026, Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng 158 châu Á và nằm trong nhóm 10,3% cơ sở giáo dục đại học hàng đầu khu vực (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2025b). Tuy nhiên, xếp hạng chỉ là một lát cắt. Năng lực cạnh tranh bền vững phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ, hệ sinh thái nghiên cứu, khả năng thu hút nhân tài, quản trị dữ liệu, hợp tác quốc tế và mức độ gắn kết với các vấn đề phát triển của Việt Nam.

Các định hướng chiến lược giai đoạn 2026-2035 của Đại học Quốc gia Hà Nội đặt trọng tâm vào sáu trụ cột: quản trị tối ưu, đội ngũ nhân tài, nghiên cứu xuất sắc gắn với đào tạo tinh hoa, tài chính bền vững, hạ tầng và công nghệ số, cùng đô thị tri thức và công nghệ tại Hòa Lạc (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2026a). Những trụ cột này cho thấy truyền thống đào tạo tinh hoa đang được đặt vào một cấu trúc phát triển rộng hơn, nơi đại học không chỉ là nơi dạy học mà là hệ sinh thái tri thức. Điểm mấu chốt là phải biến các trụ cột chiến lược thành cơ chế vận hành cụ thể: cơ chế thu hút học giả xuất sắc, chương trình đào tạo liên ngành thực chất, môi trường nghiên cứu mở, dữ liệu quản trị minh bạch và chính sách khuyến khích sáng tạo.

Truyền thống Đại học Đông Dương - Đại học Quốc gia Hà Nội vì vậy có thể được xem là một dạng vốn biểu tượng. Vốn biểu tượng này tạo uy tín, bản sắc và khả năng huy động nguồn lực. Nhưng vốn biểu tượng chỉ có giá trị nếu được chuyển hóa thành vốn học thuật và vốn tổ chức. Nếu chỉ dừng ở kỷ niệm lịch sử, truyền thống có nguy cơ trở thành diễn ngôn tự hào. Nếu được gắn với cải cách chương trình, quản trị đại học, nghiên cứu xuất sắc và phục vụ xã hội, truyền thống có thể trở thành nguồn lực cạnh tranh.

5. Thảo luận và hàm ý

Kết quả nghiên cứu gợi mở một số thảo luận. Trước hết, truyền thống 120 năm của Đại học Quốc gia Hà Nội cần được hiểu như một quá trình tái nghĩa hóa lịch sử. Đại học Đông Dương là điểm khởi đầu của đại học hiện đại ở Việt Nam, nhưng nó ra đời trong bối cảnh thuộc địa. Đại học Quốc gia Việt Nam năm 1945 tạo ra sự chuyển hóa về chính danh dân tộc. Đại học Tổng hợp Hà Nội củng cố nền tảng hàn lâm và khoa học cơ bản. Đại học Quốc gia Hà Nội sau năm 1993 tạo ra mô hình tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực. Như vậy, truyền thống không nằm ở sự đồng nhất tuyệt đối giữa các giai đoạn, mà ở khả năng chọn lọc, chuyển hóa và nâng cấp các giá trị học thuật qua những bối cảnh chính trị - xã hội khác nhau.

Thứ hai, đào tạo tinh hoa cần được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm công. Một đại học quốc gia không nên hiểu tinh hoa theo logic thị trường thuần túy, trong đó người học xuất sắc được xem như nguồn nhân lực cao cấp cho cạnh tranh kinh tế. Cách nhìn đó cần được bổ sung bằng logic phụng sự: tinh hoa là những người có năng lực chuyên môn, tư duy phản biện, đạo đức học thuật và ý thức đóng góp cho xã hội. Đây cũng là cách để cân bằng giữa mục tiêu nâng cao thứ hạng quốc tế và nhiệm vụ phục vụ quốc gia. Bảng xếp hạng có thể tạo động lực cải thiện chuẩn mực, nhưng không thể thay thế sứ mệnh đại học.

Thứ ba, truyền thống đào tạo tinh hoa của Đại học Quốc gia Hà Nội đòi hỏi một mô hình quản trị tương thích. Những chương trình đào tạo tinh hoa, nghiên cứu liên ngành hoặc hợp tác quốc tế chất lượng cao thường không thể phát triển trong môi trường quản trị quá phân mảnh, thủ tục nặng nề hoặc thiếu dữ liệu. Vì vậy, hàm ý quản trị quan trọng là cần xây dựng cơ chế linh hoạt cho các đơn vị, nhóm nghiên cứu và chương trình chiến lược, đồng thời bảo đảm trách nhiệm giải trình về chất lượng, liêm chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Tự chủ đại học chỉ có ý nghĩa khi đi kèm năng lực quản trị và văn hóa trách nhiệm.

Thứ tư, việc số hóa và diễn giải di sản học thuật cần được xem là một phần của chiến lược đào tạo tinh hoa. Di sản Đại học Đông Dương, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ có giá trị lưu niệm; nó có thể trở thành nguồn học liệu, dữ liệu nghiên cứu và công cụ giáo dục bản sắc cho sinh viên. Việc xây dựng kho tư liệu số, bản đồ tri thức lịch sử, hồ sơ học giả tiêu biểu, học liệu mở và các học phần về lịch sử đại học có thể giúp người học hiểu rằng họ đang tham gia một cộng đồng học thuật có chiều sâu. Bản sắc học thuật, nếu được tổ chức tốt, có thể tăng động lực học tập và trách nhiệm xã hội.

Thứ năm, đào tạo tinh hoa trong giai đoạn tới cần chuyển từ mô hình “chương trình riêng” sang mô hình “hệ sinh thái tinh hoa”. Một số chương trình chất lượng cao hoặc tài năng có thể tạo điểm nhấn, nhưng chưa đủ nếu môi trường chung không hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới và tương tác quốc tế. Hệ sinh thái tinh hoa bao gồm trường phổ thông chuyên và dự bị đại học, chương trình cử nhân nghiên cứu, học bổng tài năng, phòng thí nghiệm mở, nhóm nghiên cứu mạnh, cố vấn học thuật cá nhân hóa, chương trình trao đổi quốc tế, mạng lưới cựu sinh viên và cơ chế kết nối với doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu. Chỉ khi các thành tố này liên thông, truyền thống đào tạo tinh hoa mới tạo được tác động dài hạn.

Từ các thảo luận trên, có thể rút ra ba hàm ý chính sách. Một là Đại học Quốc gia Hà Nội cần xây dựng khung nhận diện chính thức về “đào tạo tinh hoa phụng sự quốc gia”, trong đó làm rõ chuẩn đầu ra về học thuật, đạo đức, năng lực lãnh đạo và trách nhiệm xã hội. Hai là cần phát triển các chương trình liên ngành chiến lược xoay quanh những vấn đề lớn của Việt Nam và khu vực, ví dụ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, biến đổi khí hậu, luật và quản trị công nghệ, y sinh, phát triển đô thị và văn hóa Việt Nam trong toàn cầu hóa. Ba là cần thiết lập cơ chế đánh giá tác động dài hạn của đào tạo tinh hoa, không chỉ dựa trên điểm tuyển sinh hay số lượng công bố, mà còn dựa trên đóng góp của người học và cựu sinh viên đối với khoa học, chính sách, doanh nghiệp và cộng đồng.

6. Kết luận và khuyến nghị

Bài viết đã phân tích truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa của Đại học Quốc gia Hà Nội trong dòng phát triển từ Đại học Đông Dương đến hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy truyền thống này không nên được hiểu như một đường thẳng lịch sử đơn giản, mà là một quá trình kế thừa, đứt gãy và tái nghĩa hóa. Đại học Đông Dương đặt nền móng cho mô hình đại học hiện đại; Đại học Quốc gia Việt Nam sau năm 1945 chuyển hóa chính danh tri thức sang khuôn khổ độc lập dân tộc; Đại học Tổng hợp Hà Nội củng cố truyền thống khoa học cơ bản và hàn lâm; Đại học Quốc gia Hà Nội sau năm 1993 tích hợp các truyền thống đó trong mô hình đại học quốc gia đa ngành, đa lĩnh vực, hướng tới nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Đóng góp chính của bài viết là đề xuất cách hiểu đào tạo tinh hoa như một năng lực công. Theo đó, tinh hoa không phải là đặc quyền xã hội khép kín, mà là khả năng phát hiện, bồi dưỡng và kết nối nhân tài để tạo ra tri thức, năng lực lãnh đạo và giá trị phụng sự. Cách hiểu này giúp dung hòa giữa yêu cầu xuất sắc học thuật và yêu cầu công bằng, giữa cạnh tranh quốc tế và sứ mệnh quốc gia, giữa kế thừa truyền thống và đổi mới thể chế. Truyền thống 120 năm vì vậy không chỉ là tài sản biểu tượng, mà còn là nguồn lực chiến lược nếu được chuyển hóa thành chương trình đào tạo, cơ chế nghiên cứu, quản trị đại học và văn hóa học thuật.

Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra năm khuyến nghị. Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược diễn giải di sản học thuật 120 năm theo hướng học thuật hóa, số hóa và quốc tế hóa, thay vì chỉ truyền thông kỷ niệm. Thứ hai, cần phát triển hệ sinh thái đào tạo tinh hoa liên thông từ phổ thông chuyên, đại học, sau đại học đến mạng lưới cựu sinh viên và nhóm nghiên cứu mạnh. Thứ ba, cần đẩy mạnh các chương trình liên ngành gắn với những vấn đề phát triển chiến lược của Việt Nam, qua đó biến đào tạo tinh hoa thành năng lực giải quyết vấn đề quốc gia. Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế quản trị tự chủ, trách nhiệm giải trình và phân bổ nguồn lực dựa trên chất lượng học thuật. Thứ năm, cần xây dựng hệ thống theo dõi tác động dài hạn của người học và cựu sinh viên, coi đây là một chỉ báo quan trọng của truyền thống đào tạo tinh hoa.

Trong tương lai, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng bằng dữ liệu phỏng vấn cựu sinh viên, giảng viên, nhà quản lý và nhà tuyển dụng; phân tích mạng lưới học giả và cựu sinh viên qua nhiều thế hệ; hoặc so sánh Đại học Quốc gia Hà Nội với các đại học flagship ở châu Á. Những hướng nghiên cứu này sẽ giúp kiểm chứng sâu hơn giả thuyết rằng truyền thống học thuật, nếu được quản trị như một nguồn lực tri thức, có thể trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển của đại học nghiên cứu ở các quốc gia đang chuyển đổi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Altbach, P. G. (2013). Advancing the national and global knowledge economy: The role of research universities in developing countries.

Studies in Higher Education, 38(3), 316-330. https://doi.org/10.1080/03 075079.2013.773222

2.       Altbach, P. G., & Salmi, J. (Eds.). (2011). The road to academic excellence:

The making of world-class research universities. World Bank. https://doi. org/10.1596/978-0-8213-8805-1

3.       Bourdieu, P. (1986). The forms of capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of theory and research for the sociology of education (pp. 241-258). Greenwood.

4.       Chính phủ. (1993). Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 về việc thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội. https://vnu.edu.vn/nghi-dinh-cua-chinhphu-ve-viec-thanh-lap-dai-hoc-quoc-gia-ha-noi-doc605.html

5.       Clark, B. R. (1998). Creating entrepreneurial universities: Organizational pathways of transformation. Pergamon.

6.       Douglass, J. A. (Ed.). (2016). The new flagship university: Changing the paradigm from global ranking to national relevancy. Palgrave Macmillan.

7.       Đại học Quốc gia Hà Nội. (2016a, May 13). Đại học Đông Dương - hoàn cảnh ra đời. https://vnu.edu.vn/dai-hoc-dong-duong--hoan-canh-radoi-post19223.html

8.       Đại học Quốc gia Hà Nội. (2016b, May 17). Đại học Đông Dương (19061945) và những bài học lịch sử. https://vnu.edu.vn/dh-dong-duong-

19061945-va-nhung-bai-hoc-lich-su-post19245.html

9.       Đại học Quốc gia Hà Nội. (2021, April 27). Chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2045. https://vnu.edu. vn/chien-luoc-phat-trien-dai-hoc-quoc-gia-ha-noi-den-nam-2030-tamnhin-2045-post27980.html

10.     Đại học Quốc gia Hà Nội. (2023, August 9). [Infographic] Đại học Đông Dương là tiền thân của Đại  học Quốc gia Hà Nội. https://vnu.edu.vn/infographic-daihoc-dong-duong-la-tien-than-cua-dhqghn-post33621.html

11.     Đại học Quốc gia Hà Nội. (2025a, November 26). A brief introduction. https://en.vnu.edu.vn/a-brief-introduction-post36705.html

12.     Đại học Quốc gia Hà Nội. (2025b, November 6). QS Asia University Rankings 2026: VNU ranked 158th - a sharp rise in academic reputation, employer reputation, and internationalization. https://en.vnu.edu.vn/post36682.html

13.     Đại học Quốc gia Hà Nội. (2026a, March 9). [Infographic] Chiến lược phát triển Đại  học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045: Phần IV - Các trụ cột chiến lược. https://vnu.edu.vn/infographic-chienluoc-phat-trien-dhqghn-giai-doan-2026-2030-tam-nhin-2045-phan-ivcac-tru-cot-chien-luoc-post39489.html

14.     Geiger, R. L. (2004). Knowledge and money: Research universities and the paradox of the marketplace. Stanford University Press.

15.     Kerr, C. (2001). The uses of the university (5th ed.). Harvard University Press.

16.     Marginson, S. (2016). The worldwide trend to high participation higher education: Dynamics of social stratification in inclusive systems. Higher

Education, 72, 413-434. https://doi.org/10.1007/s10734-016-0016-x

17.     Meyer, J. W., Ramirez, F. O., Frank, D. J., & Schofer, E. (2007). Higher education as an institution. In P. J. Gumport (Ed.), Sociology of higher education: Contributions and their contexts (pp. 187-221). Johns Hopkins University Press.

18.     Salmi, J. (2009). The challenge of establishing world-class universities. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-0-8213-7865-6

19.     Shils, E. (1981). Tradition. University of Chicago Press.

20.     Trow, M. (1973). Problems in the transition from elite to mass higher education. Carnegie Commission on Higher Education.

21.     Vietnam News Agency. (2016, May 17). University of Indochina lays foundations for Vietnam’s modern education. Vietnam Pictorial. https:// vietnam.vnanet.vn/english/tin-van/university-of-indochina-laysfoundations-for-vietnams-modern-education-116557.html

ThS. Lâm Bảo Anh - Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
avatar
send icon

Có thể bạn quan tâm

  • Đại học Quốc gia Hà Nội - Từ truyền thống vẻ vang đến phát triển kinh tế giáo dục đào tạo trong kỷ nguyên mới
  • Từ Đại học Đông Dương đến bước chuyển mình của ĐHQGHN trong kỷ nguyên mới
  • Từ Đại học Tổng hợp Hà Nội đến ĐHQGHN - Sự tiếp nối, thăng hoa truyền thống 120 năm vẻ vang
  • Đại học Đông Dương - Sự du nhập hệ thống giáo dục châu âu vào Việt Nam đầu thế kỷ XX
  • Đại học Đông Dương: Tầm nhìn 120 năm
  • Khám phá mạch nguồn tinh hoa của Đại học Đông Dương: Dân tộc - Khoa học - Khai phóng - Nhân văn
  • Bồi dưỡng nhân tài Khoa học Tự nhiên: Thành tựu nổi bật và định hướng phát triển trong kỉ nguyên tri thức
Chia sẻ
Share on Facebook
Share on Zalo
Danh mục

Hội thảo "Từ đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội: Truyền thống 120 năm đào tạo tinh hoa"

Lịch sử hình thành và phát triển

Các nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu

Triển lãm nghệ thuật 120 năm - Dòng chảy tri thức

Báo chí với sự kiện