Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là linh hồn của văn hóa dân tộc, bởi vậy việc đưa tiếng Việt vào giảng dạy và nghiên cứu ở trình độ cao là một cuộc cách mạng về tư duy. Các thế hệ đi trước đã đặt nền móng cho sự nhận thức sáng suốt ấy, vậy hôm nay, trước những lôi cuốn của thế giới toàn cầu hóa, thế ứng xử nào là phù hợp? Đào tạo tinh hoa không chỉ nên hiểu sơ giản rằng cần tập trung bồi dưỡng những cá nhân xuất chúng về trí tuệ, mà còn cần đào luyện những nhân cách lớn lao với tầm nhìn thời đại.
Bài viết này tập trung xem xét vị thế của tiếng Việt trong công cuộc đào tạo đại học, để từ đó nhìn rõ hơn vai trò của tiếng Việt với cộng đồng tinh hoa, mà có thêm những suy nghĩ gợi mở khi nhìn sâu hơn vào mối quan hệ giữa tinh thần dân tộc và xu thế toàn cầu, giữa bảo tồn và phát triển. Trước những xáo trộn của thời cuộc, bản lĩnh của dân tộc càng cần được giương cao như ngọn hải đăng vững vàng, soi chiếu để tìm một lối đi phù hợp. Lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc đã chứng minh, khi nào Việt Nam sáng suốt chọn cho mình một con đường tự cường, khi ấy dù cho khó khăn gian khổ đến mấy, dân tộc này vẫn hiên ngang vượt qua.
2. Tiếng Việt với sự khẳng định vị thế năm 1945
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập, ngày 02/09/1945, giữa bộn bề công việc của giai đoạn lập quốc, một loạt những chính sách quan trọng liên quan đến ngôn ngữ dân tộc được hiện thực hóa. Trong đó, cần đặc biệt chú ý tới việc tiếng Việt được giảng dạy ở giảng đường đại học, phá vỡ thế độc tôn của tiếng Pháp suốt hơn 80 năm và của chữ Hán suốt mấy mươi thế kỷ trước đó. Việc một ngôn ngữ được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc đại học không chỉ đơn thuần là việc dạy và học thông qua một công cụ giao tiếp cụ thể, mà còn mang lại những giá trị đa tầng từ góc độ phát triển nền tảng tri thức cho đến định vị vị thế quốc gia.
2.1. Thứ nhất, sau gần một thế kỷ dưới ách đô hộ của thực dân Pháp với chính sách triệt để sử dụng tiếng Pháp trong hành chính công vụ, việc đưa tiếng Việt vào giảng dạy ở đại học là một tuyên bố mạnh mẽ về chủ quyền quốc gia và tính độc lập dân tộc. Việc tiếng Việt được giảng dạy đánh dấu sự chuyển đổi mô hình: từ một thiết chế đào tạo phục vụ bộ máy thuộc địa sang một hệ thống đại học phục vụ quốc gia độc lập. Thoát khỏi bóng hình thực dân, mà lại ở một không gian đỉnh cao của trí tuệ như trường đại học, là một động lực cổ vũ to lớn đối với tinh thần tự tôn của đồng bào quốc dân. Tiếng Việt, ngôn ngữ trước đây chỉ được dùng hạn chế trong giao tiếp thường ngày của các gia đình, nay đã có thể đĩnh đạc xuất hiện ở không gian tranh biện của những tư tưởng hàn lâm, vì vậy mà trở thành biểu tượng của ý chí dân tộc.
2.2. Thứ hai, việc giảng dạy ở bậc đại học khẳng định rằng tiếng Việt đã đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu để diễn đạt trọn vẹn ý tưởng về các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, để rồi trở thành ngôn ngữ của trí tuệ tinh hoa. Tiếng Việt mang chức năng của một công cụ kiến tạo tri thức chứ không chỉ là công cụ truyền đạt thông tin. Khi được dùng ở cấp bậc đào tạo chuyên môn sâu như đại học, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng buộc phải phát triển năng lực biểu đạt các khái niệm trừu tượng của khoa học, từ đó thúc đẩy sự trưởng thành của chính ngôn ngữ đó. Bối cảnh ấy đặt ra nhu cầu làm động lực để tiếng Việt từng bước hoàn thiện và vươn tầm. Việc tạo ra các thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt là một nỗ lực bền bỉ, giúp người Việt có thể nghiên cứu các ngành khoa học hiện đại bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình. Trước tiên là hệ thống thuật ngữ, kế đến là cấu trúc ngữ pháp phức - ghép nhiều tầng bậc, tiếng Việt từng bước có thể dùng để trao đổi những nội dung tư tưởng mà trước đây chỉ có chữ Hán của các bậc túc nho đảm nhiệm được hay những nội dung kỹ thuật hiện đại mà mới chỉ mấy mươi năm trước đó là độc quyền của chữ Pháp, tiếng Pháp. Tiếng Việt được định hình hiện đại hóa để đồng hành cùng sự phát triển tri thức của dân tộc.
2.3. Thứ ba, ở phương diện văn hóa và xã hội, vị thế của tiếng Việt được để cao, kèm theo đó là văn hóa dân tộc được chú trọng. Bởi ngôn ngữ là sự thể hiện rõ ràng của văn hóa truyền thống. Đề cao tiếng Việt cũng là thể hiện sự trân trọng văn hóa Việt Nam. Do đó việc được sử dụng tiếng Việt trong môi trường học thuật là cơ hội để những nội hàm văn hóa Việt được truyền tải trọn vẹn (những biểu hiện cụ thể của văn hóa được trình hiện và bảo tồn), được tiếp cận hệ thống (như một chỉnh thể với đầy đủ các phương diện khác nhau), và được nghiên cứu nguyên bản (không phải qua lăng kính của người ngoại quốc). Quan tâm tới văn hóa dân tộc không chỉ là cơ sở để xây dựng một nền tri thức tự chủ, nơi người Việt có thể nhận hiểu giá trị của chính mình, mà còn là nền tảng duy trì sự tồn vong của dân tộc, điều hiển nhiên mà không một dân tộc nào muốn đánh mất.
Việc chính thức đưa tiếng Việt vào giảng dạy ở bậc đại học ngay sau năm 1945 không chỉ là một bước ngoặt lịch sử giúp khẳng định chủ quyền quốc gia và tinh thần tự tôn dân tộc. Sự kiện này còn chứng minh năng lực biểu đạt tri thức khoa học hiện đại của tiếng Việt, thúc đẩy ngôn ngữ dân tộc phát triển mạnh mẽ để đáp ứng các yêu cầu học thuật chuẩn mực. Đồng thời, đây cũng là nền tảng cốt lõi để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và truyền bá tinh hoa dân tộc một cách độc lập và hệ thống.
3. Tiếng Việt và cơ sở kiến tạo tầng lớp tinh hoa
Vai trò của tiếng Việt trong giai đoạn lập quốc là không thể phủ nhận, nhưng ở thời điểm hiện tại, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang có những ảnh hưởng to lớn tới triết lý giáo dục khắp nơi trên địa cầu, tiếng Việt có còn đủ năng lực để kiến tạo tầng lớp tinh hoa?
3.1. Tiếng Việt là nguyên liệu cốt lõi để đúc rèn nên trí tuệ của người trí thức.
Mỗi cá nhân trong tầng lớp tinh hoa cần làm chủ được tiếng mẹ đẻ ở mức độ cao nhất, nhằm biến ngôn ngữ thành công cụ sắc bén hỗ trợ kiến tạo nên những giá trị mới cho dân tộc và nhân loại. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt thông tin mà còn là khuôn mẫu định hình cách suy nghĩ. Khi trí thức Việt Nam tiếp nhận các hệ thống tư tưởng phức tạp của nhân loại, việc Việt hóa các thuật ngữ, các khái niệm trừu tượng không chỉ là dịch thuật hay sao phỏng mà là quá trình tái cấu trúc tri thức sao cho phù hợp với tâm thức Việt. Quá trình này buộc chủ thể phải tư duy lại bản chất vấn đề, và nếu không có tri thức về bản ngữ thì không thể chuyển tải những tri thức ấy nhuần nhuyễn và thành công.
Rộng hơn, xét về bản chất của chủ thể trí thức, việc được coi là trí thức, theo nghĩa là những con người tinh hoa của xã hội, không phải chỉ bởi lượng kiến thức họ sở hữu, mà bởi tư duy phê phán và năng lực kiến tạo. Nếu không bằng bản ngữ, nhằm hướng đến những vấn đề của dân tộc mình thì những phản biện hay những phát minh ấy dành đến đối tượng nào. Tiếng Việt giúp trí thức thoát khỏi sự lệ thuộc hoàn toàn vào các hệ thống lý luận ngoại lai, mà trăn trở những vấn đề từ thực tiễn của dân tộc trên nền tảng tri thức nhân loại. Khi tư duy bằng tiếng Việt, họ đứng trên mảnh đất văn hóa dân tộc để đối thoại với thế giới. Việc sử dụng tiếng Việt một cách chuẩn xác và tinh tế là dấu hiệu nhận diện của một “chủ thể trí thức” - người có khả năng dẫn dắt dư luận và định hình các giá trị cho xã hội.
3.2. Một năng lực quan trọng khác của ngôn ngữ là giao tiếp, tức là truyền đạt thông tin giữa người với người. Từ nền tảng truyền phát và hồi đáp ấy, suy rộng ra, một cộng đồng tương tác được hình thành. Tiếng Việt với vai trò là sợi dây nối kết những chủ thể trí thức sẽ tham gia định hình một cộng đồng trí thức với hệ thống các chuẩn mực và giá trị đặc thù. Một cộng đồng trí thức chỉ có thể hình thành khi có một không gian để đối thoại. Tiếng Việt, với tư cách là thiết chế, cung cấp bộ quy tắc cho không gian đó. Khi Tiếng Việt thiết lập được hệ thống thuật ngữ với nội hàm khái niệm thống nhất, từ khoa học cơ bản tới khoa học ứng dụng, từ lĩnh vực tự nhiên và công nghệ đến lĩnh vực xã hội và nhân văn, sẽ tạo ra một bộ mã nguồn chung. Điều này cho phép các cá nhân từ nhiều lĩnh vực khác nhau có thể nhận hiểu và phản biện lẫn nhau, từ đó liên kết thành một cộng đồng có tổ chức, để cùng thúc đẩy sự tiến bộ của nền dân trí.
Ngôn ngữ học xã hội khẳng định rằng cách sử dụng ngôn ngữ là dấu hiệu để nhận diện giai tầng, bởi vậy mà khả năng sử dụng tiếng Việt ở trình độ cao với sự phong phú về từ vựng, sự phức tạp của cấu trúc ngữ pháp, những tầng sâu ngữ nghĩa ngầm ẩn, những tri thức về bối cảnh trong dụng ngôn, v.v. trở thành chỉ báo của giới trí thức. Và những người có khả năng vận hành ngôn ngữ để kiến tạo nên các giá trị tinh thần mới sẽ hội tụ lại, hình thành nên một tầng lớp có uy tín và ảnh hưởng xã hội. Nhiệm vụ tối thượng của cộng đồng trí thức là phụng sự sự phát triển của dân tộc. Những diễn ngôn có sức ảnh hưởng bằng tiếng Việt chính là quyền lực thực sự của tầng lớp tinh hoa đối với xã hội. Qua đó, họ sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về đạo đức và trí tuệ cho toàn xã hội.
3.3. Tuy nhiên, cần đi sâu để hiểu bản chất thực sự của tầng lớp tinh hoa là gì.
Để một tầng lớp trí thức trở thành “tinh hoa” (elite) thực thụ của một dân tộc chứ không phải những kẻ “lưu vong văn hóa”, “những ông Tây An-nam” trên chính quê hương mình, tiếng Việt đóng vai trò là sợi dây neo giữ họ vào bản sắc dân tộc. Khi xem xét tiếng Việt như biểu tượng văn hóa, đồng nghĩa với việc chạm đến tầng sâu nhất của quá trình kiến tạo tầng lớp tinh hoa. Ở đây, ngôn ngữ không còn là công cụ hay thiết chế, mà là linh hồn, là tinh thần, là cốt tủy của một nền văn hóa.
Tầng lớp tinh hoa không chỉ được nhận diện qua học vấn mà còn qua chiều sâu tâm hồn. Quan sát cách một người thuộc tầng lớp tinh hoa sử dụng tiếng mẹ đẻ, sẽ dễ dàng cảm nhận được hệ giá trị của dân tộc được phản ảnh. Chính cốt cách Việt trong lời ăn tiếng nói sẽ giúp những bản sắc của dân tộc được bảo tồn trước các luồng văn hóa ngoại lai. Trong thời đại công nghệ tiên tiến nối kết toàn cầu của một thế giới có thuộc tính phẳng như hiện nay, tri thức nhân loại được chia sẻ khiến cho trí thức đôi khi quy giản về một mẫu số chung. Trước nguy cơ, trí thức Việt Nam bị hòa tan vào thế giới, tiếng Việt đóng vai trò là bộ lọc để định vị vị thế của tầng lớp tinh hoa. Một người có thể giỏi ngoại ngữ, nắm bắt công nghệ toàn cầu, nhưng anh ta chỉ trở thành tinh hoa của Việt Nam khi anh ta có khả năng diễn đạt những tư tưởng phức tạp đó bằng một thứ tiếng Việt chuẩn mực và lôi cuốn. Điều đó thể hiện rằng anh ta thực sự là một người có cội rễ Việt Nam, am tường Việt Nam và có ước vọng xây dựng Việt Nam. Tiếng Việt là phương cách tối ưu, nếu không muốn khẳng định là duy nhất, để những giá trị nhân loại tương thích với mạch nguồn văn hóa dân tộc. Nếu không có quá trình Việt hóa, những tri thức tiên tiến ấy mãi là ngoại lai và tầng lớp này sẽ mãi là những mảnh ghép rời rạc với cộng đồng dân tộc. Tầng lớp tinh hoa có sứ mệnh dẫn dắt dân tộc đi đến những giá trị cao đẹp mà nhân loại vươn tới. Nhưng nếu không có sự tin cậy từ đại bộ phận người dân, thì tất cả những hô hào chỉ là những ý tưởng, bởi một trí thức chỉ thực sự có sức ảnh hưởng khi họ chia sẻ cùng một tần số văn hóa với cộng đồng mà họ muốn dẫn dắt. Khi tầng lớp tinh hoa nói và viết bằng thứ tiếng Việt thấm đẫm văn hóa Việt, họ sẽ tạo ra một không gian kết nối gần gũi với quần chúng. Đồng thời, thông qua việc tôn vinh và sử dụng tiếng Việt một cách bác học nhưng thân thuộc, tầng lớp tinh hoa trở thành những người bảo chứng cho sức sống của truyền thống dân tộc. Việc làm của họ chứng minh rằng tiếng Việt đủ sức gánh vác những tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại, từ đó khơi dậy lòng tự tôn dân tộc trong toàn xã hội. Không những thế, sử dụng tiếng Việt như một chất liệu để tạo ra những giá trị văn hóa mới chính là kiến tạo bản sắc, làm cho bản sắc văn hóa không phải là cái gì đó bất biến và khuôn cứng trong bảo tàng, mà là một thực thể sống động, không ngừng lớn mạnh. Tầng lớp tinh hoa cần hướng đến những thành tựu dạng này chứ không đơn thuần chỉ là sự giới thiệu, làm cầu nối những sản phẩm từ thế giới vào Việt Nam. Có thể hình dung, tầng lớp tinh hoa là người đứng ở biên giới, am hiểu “bên ngoài” nhưng không quên “bên trong”, lấy bản sắc dân tộc làm điểm tựa để tiếp nhận những giá trị tiên tiến từ quốc tế. Và chính ngôn ngữ nói chung, hay tiếng Việt nói riêng là công cụ hữu ích hỗ trợ tầng lớp tinh hoa tiến hành quá trình thâu hóa chọn lọc, chứ không phải sao phỏng cơ giới. Bởi nếu không có bản ngữ làm cơ sở, tư duy sẽ mất đi khả năng phản biện đặc thù, người trí thức lúc này chỉ còn là những cái máy photocopy, phát ngôn những chân lý của người khác mà không thể đối thoại ngang hàng với thế giới bằng đặc trưng căn tính vốn có của dân tộc mình. Họ có thể nắm bắt được các thuật ngữ ngoại lai nhưng lại thiếu đi thực tiễn dân tộc, kéo theo hệ quả là họ suy nghĩ bằng những khái niệm mượn và diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ vay mượn, dẫn đến một kiểu tư duy đứt gãy. Nói cách khác, sự yếu kém về bản ngữ chính là rào cản ngăn chặn sự thăng hoa của trí tuệ sáng tạo, khiến mọi nỗ lực kiến tạo giá trị mới đều trở nên hời hợt, thiếu sức sống và không thể thuyết phục mà dẫn dắt cộng đồng.
Cũng giống như vai trò của bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới đối với sự kiến tạo tầng lớp tinh hoa, tiếng Việt với những năng lực vốn có là cơ sở để định hình chủ thể trí thức Việt, để xây dựng cộng đồng trí thức tinh hoa Việt Nam. Tuy nhiên, vai trò của tiếng Việt không đơn thuần là sự thôi thúc tư duy của người trí thức, không sơ giản chỉ là sự kết nối những con người cùng lối sử dụng ngôn ngữ thành một cộng đồng tinh hoa, mà còn là hiện thân của tinh thần bản sắc văn hóa dân tộc được khẳng định như một thuộc tính cần yếu của tầng lớp được coi là trí tuệ của Việt Nam.
4. Tiếng Việt, nhìn từ di sản Đại học Đông Dương đến vai trò trong bản sắc đại học Việt Nam hiện đại
Đại học Đông Dương, đại học đầu tiên của Việt Nam, là nơi du nhập mô hình đại học tiên tiến theo phong cách phương Tây hiện đại, đã để lại nhưng di sản quý giá, có thể kể tới như: mô hình đại học lấy tri thức đỉnh cao làm nền tảng, với định hướng và quy trình đào tạo tinh hoa chuẩn mực, cùng tầm nhìn kết nối quốc tế và cập nhật tri thức.
Nhưng cơ cấu đại học thuộc địa cũng để lại những khoảng trống cần khắc phục: hạn chế bản địa hóa tri thức, đào tạo xa rời đại chúng và đặc biệt là sử dụng hoàn toàn tiếng Pháp trong giảng dạy với mục đích đào tạo nhân viên phục vụ mục đích cai trị và khai thác thuộc địa. Nhìn từ di sản Đại học Đông Dương, tiếng Việt có thể là một công cụ hữu ích khắc phục những giới hạn ấy. Với cơ sở để tạo lập tầng lớp tinh hoa cho xã hội, tiếng Việt trở thành nhân tố không thể bỏ qua khi xác định bản sắc của đại học Việt Nam hiện đại. Để hiện thực hóa định hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Tổ quốc, tiếng Việt thể hiện những vai trò mang tính nền tảng.
Thứ nhất, tiếng Việt là phương tiện tiếp thu tri thức chuyên sâu, hỗ trợ bản địa hóa tri thức tiên tiến của thế giới. Đại học hiện đại không chỉ nhập khẩu kiến thức, theo nghĩa giới thiệu và sao phỏng, mà cần phải chuyển hóa chúng thành tri thức của quốc gia. Tiếng Việt là công cụ hữu ích để chuyển ngữ đồng thời chú giải các học thuyết, các công nghệ cập nhật nhất từ nước ngoài. Quá trình này giúp tri thức thế giới trở nên gần gũi, dễ hiểu và có thể ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời, với đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực khác nhau, chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Việt là cách đại học khẳng định tầm vóc định hướng về mặt học thuật, tạo cơ sở cho những sáng tạo học thuật của chính Việt Nam.
Thứ hai, tiếng Việt là cơ sở hiện thực của nhận thức và tư duy, nhằm hỗ trợ sáng tạo những tiến bộ xã hội. Ngôn ngữ phản ánh cách các cộng đồng sử dụng nhìn nhận về thế giới thực tại xung quanh. Việc duy trì tiếng Việt trong giảng dạy và nghiên cứu giúp lưu giữ những góc nhìn độc đáo của người Việt. Đặc biệt trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, tiếng Việt là công cụ duy nhất có đủ độ tinh tế để phân tích các sắc thái tư duy và tâm thức dân tộc. Từ nền tảng đó, các chuyên gia có khả năng phân tích bối cảnh Việt Nam mà thực hiện vai trò phản biện, đối thoại với cộng đồng một cách sâu sắc và hiệu quả nhất.
Thứ ba, tiếng Việt duy trì nền tảng văn hóa dân tộc ở nơi định hình tầng lớp tinh hoa. Đại học tinh hoa không chỉ cần kỹ năng chuyên môn mà nhất thiết cần một hệ giá trị tư tưởng. Tiếng Việt đóng vai trò thiết thực để kiến tạo hệ giá trị của từng cá nhân cũng như toàn cộng đồng. Tiếng Việt chứa đựng những mã văn hóa mà ngoại ngữ không thể chuyển tải trọn vẹn, ví dụ yêu nước, tình đồng bào, tự cường, v.v.. Khi tầng lớp tinh hoa tư duy bằng tiếng Việt, họ tiếp nhận tri thức thế giới thông qua lăng kính tâm hồn Việt nên họ sẽ hiểu sâu sắc bối cảnh lịch sử và thực tiễn xã hội của đất nước một cách tự nhiên, bởi sự kết nối liên tục với nguồn cội. Đồng thời, những ý tưởng của Việt Nam khi được diễn giải sẽ không chỉ là người đi sau minh họa lý thuyết của thế giới, mà còn là những đóng góp từ góc nhìn đặc thù dựa trên trải nghiệm văn hóa riêng khác của Việt Nam.
Thứ tư, tiếng Việt tham gia đưa tri thức hàn lâm hòa nhập với đời sống xã hội. Một đại học hiện đại không thể là “tháp ngà” tách biệt, bởi những tri thức hàn lâm suy cho cùng vẫn là để hướng tới phục vụ cộng đồng, ở những phương diện khác nhau từ vật chất cho tới tinh thần. Tiếng Việt giữ vai trò kết nối giữa lý thuyết và thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu khoa học cần được phổ biến bằng tiếng Việt để doanh nghiệp và người dân có thể tiếp cận, thay vì chỉ nằm trong các bài báo tiếng Anh trên các tạp chí quốc tế. Ở góc nhìn thực dụng hơn, phần lớn sinh viên tốt nghiệp sẽ làm việc tại thị trường Việt Nam. Nếu không sử dụng tiếng Việt thành thạo và chuẩn mực, nguồn lực được đào tạo sẽ không thể đạt được những hiệu quả như kỳ vọng.
Thứ năm, tiếng Việt hỗ trợ khẳng định vị thế của các trường đại học. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nếu không xác định được bản sắc của riêng mình, tất cả sẽ chỉ là những phiên bản tương tự nhau trên khắp thế giới. Các trường đại học xây dựng vị thế không phải bằng cách trở thành “bản sao” của phương Tây hay của Đông Á, mà bằng cách trở thành trung tâm nghiên cứu những vấn đề của thực tiễn bản địa, xuất phát từ những tiềm năng bản địa, nhằm giải quyết những thực trạng nảy sinh ở bản địa, rồi từ góc nhìn đặc thù ấy để góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng mang tính phổ quát của văn minh nhân loại. Muốn hiểu một vấn đề bản địa, không có cách nào tốt hơn là đi từ tiếng nói của cộng đồng dân cư đó. Tiếng Việt sẽ là phương tiện hữu ích hỗ trợ định danh bản sắc của người Việt Nam, bởi ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của nhận thức đồng thời cũng là biểu hiện phản ánh cụ thể văn hóa mỗi cộng đồng.
Tuy nhiên, nhiệm vụ quan trọng của đào tạo đại học vẫn luôn là chất lượng đầu ra. Thực trạng của một quốc gia đang trên đà hội nhập sâu rộng, đôi khi không cho phép cưỡng lại lực hút của thị trường quốc tế. Vậy cần giải quyết thế nào với hiện trạng đang tồn tại ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển vẫn luôn là một nan đề đối với những nhà hoạch định chính sách. Một đại học mang tầm vóc quốc gia, với sứ mệnh xây dựng đội ngũ tinh hoa, mang trên mình hai trọng trách: vừa là “ngọn hải đăng” bảo tồn văn hóa để vun bồi tri thức dân tộc, vừa là “những cánh buồm” mở rộng giao lưu để hội nhập quốc tế. Xác định bản chất của thực trạng, cho thấy việc chọn ưu tiên hay không ưu tiên tiếng Việt trong môi trường đại học cần nằm trong chiến lược tối ưu hóa mục tiêu.
Tiếng Việt cần phải là ngôn ngữ chủ đạo đối với các chương trình mang tính nền tảng và đặc thù quốc gia. Các ngành khoa học xã hội và nhân văn cần được tiếp cận bằng tiếng Việt để đảm bảo tư duy, bản sắc và hệ giá trị cốt lõi của Việt Nam được nắm vững, được coi trọng. Trong khi đó, các nghiên cứu hiện đại, đặc biệt là các ngành khoa học thuộc lĩnh vực công nghệ cần được cập nhật tri thức trực tiếp từ ngôn ngữ nguồn. Có thể ưu tiên tiếng Anh, ngôn ngữ có vai trò trung chuyển giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay. Nhưng đối với từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể có thể có những lựa chọn ngoại ngữ khác, ví dụ tiếng Đức để nghiên cứu triết học, tiếng Pháp để nghiên cứu nghệ thuật, tiếng Nhật để tìm hiểu các vật liệu mới, hay tiếng Hàn để tìm hiểu về công nghệ làm đẹp, v.v.. Sự cân bằng, không thiên lệch (vọng ngoại hay bài ngoại) trong việc lựa chọn sẽ tạo được một không gian với những điều kiện tối ưu hun đúc luyện rèn tầng lớp tinh hoa. Nếu xác định rõ ràng đặc trưng bản thể - chúng ta là ai và nhất quán về định hướng tương lai - chúng ta sẽ đến đâu, thì việc định hình quy trình thực hiện - chúng ta cần làm gì, sẽ không đến mức quá phức tạp. Ngoại ngữ sẽ vẫn luôn là một công cụ hữu ích và tiện lợi để khai mở kho tàng tri thức nhân loại, trong khi bản ngữ tiếng Việt sẽ là chủ thể kiểm nghiệm để phân tích, ứng dụng và giải quyết những nan đề của thực tiễn Việt Nam.
Việc định vị tiếng Việt trong môi trường đại học không chỉ đơn thuần là lựa chọn một công cụ truyền đạt tri thức, mà là chiến lược cốt lõi để khẳng định bản sắc học thuật và tính tự chủ của tri thức quốc gia. Nhìn lại những khoảng trống do tình trạng độc tôn tiếng Pháp thời giáo dục thuộc địa, để càng hiểu rõ hơn vai trò của tiếng Việt trong việc xác lập bản sắc đại học Việt Nam hiện đại. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, lấy bản ngữ làm bệ đỡ tư duy để xác lập đặc trưng bản thể và ngoại ngữ như một phương tiện tham chiếu mà hội nhập sẽ tạo nên sức mạnh nội sinh, giúp tầng lớp tinh hoa Việt Nam vừa giữ vững căn tính dân tộc, vừa đủ tầm vóc đối thoại bình đẳng với thế giới.
5. Kết luận
Trong cấu trúc năng lực của tầng lớp tinh hoa hiện đại, song ngữ/ đa ngữ là một tiêu chí cần thiết, bởi với khả năng vận hành đồng thời hệ thống tư duy đa văn hóa, song ngữ/đa ngữ phát huy được cả thế mạnh cộng hưởng của bản ngữ và ngoại ngữ trong sự định hình trí tuệ của từng cá nhân nói riêng và của cả giới tinh hoa nói chung. Tuy nhiên cần khẳng định bản ngữ có vai trò nền tảng, bởi chính sự vững chãi của bản ngữ tạo nên bản sắc riêng biệt, giúp người trí thức không bị đồng hóa mà trái lại, có đủ nội lực để tiếp nhận những tri thức phong phú từ bên ngoài mang lại.
Bài viết nhìn từ dấu mốc quan trọng khi tiếng Việt được đưa vào giảng dạy ở đại học, để thấy tầm viễn kiến của thế hệ lập quốc, mà khẳng định chắc chắn hơn về vị thế của tiếng Việt trong vai trò kiến tạo tầng lớp tinh hoa. Đại học ở Việt Nam hiện nay, nhất là Đại học Quốc gia Hà Nội với sứ mệnh đào tạo tầng lớp tinh hoa cho sự phát triển hùng cường của Tổ quốc, nhất thiết không thể xem nhẹ mức độ cần thiết của tiếng Việt, bởi tiếng Việt là hiện thực của tâm thức Việt, là hiện thân của văn hóa Việt. Do vậy, nhận thức đúng vai trò của tiếng Việt, sẽ góp phần bồi dưỡng nên những thế hệ tinh hoa có cội rễ văn hóa sâu rộng, đủ tầm vóc đối thoại bình đẳng với thế giới, để có thể phụng sự quốc gia trong dòng chảy toàn cầu hóa hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Văn Đức (2024), Chữ Quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX - Động lực tiếp biến văn hóa Việt đương đại. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Lược sử Việt ngữ học - tập 1. Hà Nội: NXB Giáo dục.
3. Vũ Đình Hòe (2004), Hồi ký Vũ Đình Hòe, Hà Nội: NXB Hội Nnhà văn.
4. Dương Xuân Quang (2024), “Tiếng Việt giữa hai lựa chọn bảo tồn và phát triển”, Nghiên cứu và đào tạo Việt Nam học: những vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; tr.394-405.
5. Lê Quang Thiêm (2018), Sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (1907-2005). Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Hoàng Tụy (2013), Giáo dục - xin cho tôi nói thẳng. Hà Nội: NXB Tri thức.