VNU Logo

Bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận trong CPTPP

Quyền đối với nhãn hiệu có thể thuộc về một chủ thể cũng như một vài chủ thể khác nhau. Nhãn hiệu cá nhân là dấu hiệu được đăng ký và bảo hộ cho một chủ thể kinh doanh. Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu được đăng ký và bảo hộ cho một tổ chức tập thể các chủ thể kinh doanh dành cho các sản phẩm có chất lượng và những đặc tính chung đồng nhất được sản xuất, cung cấp bởi các chủ thể kinh doanh thuộc tập thể đó.

 Mục đích của nhãn hiệu tập thể là sử dụng một nhãn hiệu chung cho các sản phẩm cùng được sản xuất và cung ứng bởi nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau. Những quy định mang tính nguyên tắc về việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể được nêu tại Điều 7bis Công ước Pari, trong đó: các nước thành viên có trách nhiệm chấp nhận đơn đăng ký và bảo hộ các nhãn hiệu tập thể thuộc về các tập thể mà sự tồn tại của các tập thể đó không trái với pháp luật nước xuất xứ, thậm chí các tập thể đó không sở hữu các cơ sở công nghiệp và thương mại. Pháp luật một số quốc gia đều có những quy định về bảo hộ tập thể (Mỹ, Italia, Pháp, v.v.). Tại một số nước khác (Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan) nhãn hiệu tập thể được bảo hộ bằng những đạo luật riêng, bổ sung thêm cho các đạo luật về nhãn hiệu.

Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu được đăng ký và bảo hộ cho một tổ chức tập thể các chủ thể kinh doanh dành cho các sản phẩm có chất lượng và những đặc tính chung đồng nhất được sản xuất, cung cấp bởi các chủ thể kinh doanh thuộc tập thể đó. Mục đích của nhãn hiệu tập thể là sử dụng một nhãn hiệu chung cho các sản phẩm cùng được sản xuất và cung ứng bởi nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Như vậy, nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận đều có thể chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ và ở mức độ nhất định có thể minh chứng cho việc sản phẩm gắn các nhãn hiệu đó có những tính chất, đặc tính riêng nhất định so với những sản phẩm cùng loại khác. Các quy định về bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho phép xác định một số đặc tính chung của chế độ pháp lý đối với nhãn hiệu tập thể như sau:

Thứ nhất, người nắm giữ nhãn hiệu tập thể chỉ có thể là tập thể các chủ thể kinh doanh. Về phía mình, các chủ thể kinh doanh nằm trong tập thể này chỉ có quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể. Các cơ quan có thẩm quyền của tập thể nói trên có quyền quy định các điều lệ về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể.   

Thứ hai, bản thân những chủ thể sử dụng nhãn hiệu tập thể phải là những chủ thể được pháp luật thừa nhận là có quyền sử dụng nhãn hiệu cá nhân.

Thứ ba, những chủ thể kinh doanh sử dụng nhãn hiệu tập thể có thể sử dụng nhãn hiệu này như là dấu hiệu duy nhất dùng để phân biệt sản phẩm hoặc sử dụng nhãn hiệu tập thể đó cùng với nhãn hiệu cá nhân của họ.

Thứ tư, một trong những điều kiện bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh sử dụng nhãn hiệu tập thể là bảo đảm những yêu cầu nhất định đối với chất lượng của sản phẩm được gắn nhãn hiệu tập thể.

Thứ năm, tập thể đăng ký nhãn hiệu có những chức năng nhất định trong việc kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu tập thể trên sản phẩm. Việc sử dụng nhãn hiệu tập thể trên sản phẩm thông thường phải tuân thủ những quy định trong Điều lệ nhãn hiệu tập thể, trong đó ngoài những quy định về tên tập thể đăng ký nhãn hiệu, danh sách các chủ thể có quyền sử dụng nhãn hiệu, mục đích đăng ký nhãn hiệu; Điều lệ cần phải có liệt kê những tiêu chí về chất lượng sản phẩm được gắn nhãn hiệu, các chế tài có thể được áp dụng khi xảy ra vi phạm.

Thứ sáu, chế độ sử dụng nhãn hiệu tập thể không khác biệt gì so với chế độ sử dụng nhãn hiệu cá nhân. Tuy nhiên, nhãn hiệu tập thể và quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không thể được chuyển giao cho chủ thể nằm ngoài tập thể đã đăng ký nhãn hiệu tập thể đó.

Theo Công ước Paris các nước thành viên có trách nhiệm chấp nhận đơn đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Các nước thành viên tự xác định các điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu tập thể và có thể từ chối bảo hộ nếu nhãn hiệu đó trái với lợi ích xã hội (Điều 7bis). Tại bất cứ nước thành viên nào, nếu việc sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký là bắt buộc thì việc hủy bỏ nhãn hiệu chỉ có thể được tiến hành sau một thời gian hợp lý và chỉ trong trường hợp khi chủ sở hữu không minh chứng được lý do chính đáng của việc không sử dụng nhãn hiệu.

Khái niệm nhãn hiệu chứng nhận tại các quốc gia khác nhau thường được hiểu theo những nghĩa khác nhau. Thông thường, nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu được cấp cho các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, v.v. của hàng hóa, dịch vụ đăng ký, sau đó, tổ chức này có quyền cấp phép sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất kinh doanh nào nếu họ đáp ứng các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đặt ra. Khác với nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu chứng nhận được sử dụng thông qua việc sử dụng của chính các tổ chức cá nhân đáp ứng được các điều kiện đề ra trong quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, chứ bản thân chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận lại không trực tiếp sử dụng nó. Việc sử dụng này, được thể hiện thông qua việc các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng nhãn hiệu, gắn nhãn hiệu chứng nhận lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, các phương tiện giao dịch, kinh doanh hoặc thông qua việc lưu giữ, tàng trữ, quảng cáo để bán các hàng hóa, hoặc cung ứng các dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ. Các tổ chức, cá nhân sử dụng nhãn hiệu chứng nhận có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm chỉnh quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Mặt khác, chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận cũng phải có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận khi thực hiện chức năng chứng nhận đồng thời, có nghĩa vụ kiểm soát việc tuân thủ quy chế sử dụng nhãn hiệu của các cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận tương ứng.

Có thể thấy, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể có khá nhiều điểm tương đồng nhau:

Thứ nhất, chúng đều là nhãn hiệu được nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh cùng sử dụng khi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của họ đáp ứng tiêu chuẩn chung đã thống nhất hoặc được quy định.

Thứ hai, những nhãn hiệu này có chứa đựng các dấu hiệu mang tính chất mô tả (như xuất xứ địa lý, chất lượng, phương thức sản xuất, v.v.).

Thứ ba, hồ sơ đăng ký bảo hộ hai loại nhãn hiệu này đều phải bao gồm bản Quy chế sử dụng. Bản Quy chế sử dụng này do những chủ thể có thẩm quyền trong việc đăng ký nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể xây dựng dựa trên điều kiện thực tế tại địa phương.

Song, hai loại nhãn hiệu này cũng có những khác biệt đáng kể, qua đó thể hiện rõ hơn chức năng cũng như ý nghĩa của từng loại:

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu do các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, v.v. của hàng hóa, dịch vụ đăng ký, sau đó tổ chức này có quyền cấp phép sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nào nếu hàng hóa, dịch vụ của họ đáp ứng các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đặt ra. Còn nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu của một tập thể các nhà sản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty, v.v.) tập thể này xây dựng quy chế chung về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể và các thành viên có quyền sử dụng nhãn hiệu nếu hàng hóa, dịch vụ của họ đáp ứng được các tiêu chuẩn đó. Quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể tùy từng trường hợp có thể là cá nhân hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp cho tập thể đó.

Sự khác biệt chủ yếu giữa nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể thể hiện ở một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ sở hữu:

- Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể là một tập thể các nhà sản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty, v.v.). Quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể tùy từng trường hợp có thể là cá nhân hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp cho tập thể đó.

- Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận là một tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, v.v. của hàng hóa, dịch vụ đăng ký.

Thứ hai, về đối tượng sử dụng nhãn hiệu:

- Nhãn hiệu tập thể: Quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc về các thành viên của tổ chức tập thể đó. Những người sử dụng nhãn hiệu tập thể hình thành một “câu lạc bộ” khép kín, đóng cửa và bị giới hạn bởi số thành viên.

- Nhãn hiệu chứng nhận: Quyền sử dụng thuộc về bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được các tiêu chuẩn định sẵn. Như vậy, ở nhãn hiệu chứng nhận người ta thực hiện chính sách mở cửa, ai cũng có thể sử dụng miễn là đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn nhất định, và do đó, số lượng thành viên không bị hạn chế.

Ngoài ra, các quy định về hai loại nhãn hiệu này trong pháp luật sở hữu trí tuệ thế giới và của nhiều nước cũng khác nhau: nhãn hiệu tập thể được quy định trong pháp luật về sở hữu trí tuệ của nhiều nước và trong các điều ước quốc tế điển hình là tại Điều 7bis Công ước Paris; nhãn hiệu chứng nhận hầu như không được đề cập trong các điều ước quốc tế, kể cả TRIPS.

Khác với EVFTA không đề cập vấn đề bảo hộ nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) dành Điều 18.19 quy định về nghĩa vụ bảo hộ nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Theo đó, các quốc gia thành viên phải quy định rằng nhãn hiệu bao gồm cả nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Không bên nào có nghĩa vụ coi nhãn hiệu chứng nhận như một loại hình riêng biệt trong pháp luật của mình, miễn là các nhãn hiệu này được bảo hộ. Mỗi bên cũng phải quy định rằng, các dấu hiệu có thể dùng làm chỉ dẫn địa lý cũng có khả năng được bảo hộ theo hệ thống nhãn hiệu của mình.

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025 của Việt Nam đã ghi nhận bảo hộ cả hai loại nhãn hiệu nêu trên. Theo đó, Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. (khoản 17 Điều 4); Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu. (khoản 18 Điều 4). Pháp luật Việt Nam không đưa ra các điều kiện bảo hộ riêng đối với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận, do vậy, các điều kiện bảo hộ hai loại nhãn hiệu này tuân thủ các quy định chung tại các điều 72, 73 và 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025. Theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 2022, 2025, quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận được xác định như sau:

- Đối với nhãn hiệu tập thể: Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

- Đối với nhãn hiệu chứng nhận: Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép…. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận khả năng đăng ký dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận.

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 đã bãi bỏ quy định về nhãn hiệu liên kết. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định của CPTPP về việc “không bên nào có nghĩa vụ coi nhãn hiệu chứng nhận như một loại hình riêng biệt trong pháp luật của mình, miễn là các nhãn hiệu này được bảo hộ”. Tuy nhiên, tại Điều 3 (quy định chuyển tiếp) của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 thì không có quy định trực tiếp về hiệu lực của các nhãn hiệu liên kết đã được cấp văn bằng trước thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/04/2026.

Các quy định về bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận của Việt Nam hiện nay là hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu về bảo hộ các loại nhãn hiệu này trong CPTPP.

Mỹ Hạnh - VNU-UL