Trong khi các chế định pháp luật truyền thống thường có độ trễ nhất định so với sự phát triển của công nghệ, các biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả (Technological Protection Measures - TPMs) đã nổi lên như một hàng rào phòng thủ chủ động và trực tiếp nhất. Việc sử dụng công nghệ để bảo vệ nội dung không chỉ là một giải pháp tình thế, mà đã trở thành một phần không thể tách rời của hệ sinh thái sở hữu trí tuệ hiện đại. Bài viết dưới đây sẽ đi sâu phân tích tính ưu việt của các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là trong việc bảo hộ những đối tượng phức tạp như tác phẩm nghe nhìn và chương trình máy tính, đồng thời làm rõ xu hướng hình thành các "lớp" luật mới xung quanh các hệ thống quản lý quyền kỹ thuật số (DRM) trong kỷ nguyên số.
Các biện pháp kỹ thuật để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng cho thấy tính ưu việt và thích hợp với nhu cầu bảo vệ các đối tượng này trong môi trường internet. Để ngăn chặn các hành vi sử dụng trái phép các đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan, các biện pháp công nghệ khác nhau có thể được áp dụng.
Trong số các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ có thể chỉ ra những đối tượng phức tạp nhất xét dưới góc độ yêu cầu bảo vệ quyền đối với chúng trong môi trường internet. Trước tiên, đó là các tác phẩm nghe nhìn. Khác với nhãn hiệu và tên miền, các tác phẩm nghe nhìn có những đặc tính như: thứ nhất, không có hệ thống đăng ký bắt buộc hoặc hệ thống bảo vệ tương đương (trong khi nhãn hiệu phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tên miền cũng chỉ được cấp và ghi nhận theo một trình tự có kiểm soát của cơ quan đăng ký tên miền có thẩm quyền tương ứng); thứ hai, việc ghi nhận hành vi xâm phạm đối với các đối tượng này khá phức tạp do cấu trúc linh hoạt của chúng. Ví dụ: để chứng minh hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong internet chỉ cần ghi nhận lại trong web tương ứng, trong khi đối với tác phẩm nghe nhìn cần chứng minh sự kiện sử dụng tác phẩm, tức là cần ghi nhận được sự kiện nghe, nhìn tác phẩm đó thông qua công cụ internet. Chính vì lý do đó, để xác lập và nắm vững được công cụ bảo vệ phù hợp trên internet cần có những nghiên cứu về kỹ thuật làm việc với những đối tượng phức tạp, từ đó xây dựng những giải pháp mang tính kỹ thuật để ngăn chặn và xử lý những hành vi xâm phạm.
Các đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan là nhóm các đối tượng dễ bị xâm phạm nhất khi mà trong mọi trường hợp đều dễ dàng có thể tạo ra bản sao trong môi trường kỹ thuật số hoặc nhân bản. Ngoài các chương trình máy tính và một số tác phẩm trực tiếp thì đa phần các đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan đều có thể được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau. Chương trình máy tính được bảo vệ một cách đáng tin cậy về mặt kỹ thuật bởi việc biên dịch mã nguồn thành dạng thức thực hiện là một quá trình không thể đảo ngược. Do đó, việc có được mã nguồn hoàn chỉnh của một chương trình máy tính bằng cách dịch ngược từ dạng thức hành động là điều không thể. Do vậy, những thay đổi đáng kể trong chương trình máy tính là không thể thực hiện. Một lập trình viên kinh nghiệm với thiên hướng hacker có thể thay đổi chương trình chủ yếu để tránh lấy số seri, biến chương trình demo thành chương trình với đầy đủ chức năng, v.v.. Các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể áp dụng những phương tiện và công cụ kỹ thuật khác nhau để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Các biện pháp kỹ thuật trong bảo vệ quyền tác giả có lịch sử khá lâu đời, thậm chí từ khi nền công nghiệp in ấn xuất hiện. Các biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền liên quan xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XX khi sự sẵn có của các phương tiện ghi âm, ghi hình đã thực sự trở thành mối đe dọa đối với lợi ích của các chủ thể quyền. Khi sự phát triển của công nghệ cho phép tạo ra những loại hình đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan mới, các chủ thể quyền ngày càng tìm kiếm các biện pháp kỹ thuật phức tạp hơn để bảo vệ chúng trước những hành vi trái phép. Nếu như ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển việc bảo vệ được thực hiện tự động do những khó khăn kỹ thuật của việc sao chép đối tượng thì trong những năm gần đây việc sao chép các đối tượng số hóa ngày càng trở nên dễ dàng hơn nên việc xuất hiện những biện pháp kỹ thuật bảo vệ đặc biệt là không thể tránh khỏi. Nói một cách khác, với hệ thống pháp luật hiện có nếu không đáp ứng khả năng bảo vệ cần thiết trong bối cảnh mới thì các chủ thể quyền sẽ chú ý hơn tới việc tìm kiếm các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm[1]. Ở phương Tây đã xuất hiện khái niệm “paracopyright”[2] - được ghi nhận trong luật nhưng không áp dụng đối với quyền tác giả truyền thống. Ở Mỹ, khái niệm này thường được sử dụng chính trong quan hệ đối với các biện pháp kỹ thuật. Mục đích của “paracopyright” là thiết lập một “lớp” luật mới áp dụng bên ngoài khuôn khổ luật bản quyền cũng như luật hợp đồng hiện có. “Lớp” luật này hướng tới việc ngăn ngừa các bên tự động xâm nhập hệ thống bảo vệ và thúc đẩy việc thực thi bảo hộ quyền tác giả bằng cách theo dõi các dữ liệu số. Trên thực tế, hệ thống về quản lý quyền kỹ thuật số - (Digital Rights Management - DRM) đã được sử dụng bởi nhiều cửa hàng âm nhạc online và những nhà sản xuất sách điện tử. Học giả I. Kerr cho rằng, các đạo luật về DRM và các biện pháp bảo vệ công nghệ (Technological Protection Measures - TPM) là rất cần thiết để bảo vệ quyền tác giả trước các cá nhân sử dụng thiết bị công nghệ để xâm phạm bản quyền cũng như các đạo luật hiện hành đều không ngăn chặn được việc phân phối bất hợp pháp số lượng lớn các đối tượng số hóa đang diễn ra hằng ngày[3].
Tại Việt Nam, tiến trình nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ bản quyền trên không gian mạng đã đạt được bước tiến đột phá thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vào năm 2022. Nhằm thực thi các cam kết khắt khe trong 'Bộ đôi Hiệp ước Internet' của WIPO là WCT và WPPT, cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn cao trong các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, Luật SHTT từ lần sửa đổi năm 2022 đã chính thức thiết lập hành lang pháp lý vững chắc cho các biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền (TPMs).
Cụ thể, các hành vi cố ý hủy bỏ, làm vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đã được đưa vào danh mục các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Đặc biệt, Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành đã định nghĩa rõ ràng về biện pháp kỹ thuật và thông tin quản lý quyền, đồng thời xác lập cơ chế bảo hộ đối với các công cụ này tương tự như bảo hộ chính tác phẩm. Việc chuyển dịch từ cơ chế tự bảo vệ sang cơ chế được pháp luật bảo vệ một cách trực tiếp đối với các TPMs không chỉ giúp các chủ thể quyền tại Việt Nam tự tin hơn trong việc phổ biến tác phẩm trên internet, mà còn khẳng định sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực 'paracopyright' của thế giới hiện đại.
Trong môi trường Internet đầy biến động, các biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả (TPMs) và quản lý quyền kỹ thuật số (DRM) không còn đơn thuần là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một thực thể pháp lý - kỹ thuật không thể thiếu. Sự xuất hiện của khái niệm "paracopyright" là minh chứng cho việc hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia đang phải chuyển mình để bảo vệ chính các công cụ kỹ thuật này, coi hành vi phá bỏ rào cản công nghệ cũng nghiêm trọng như hành vi xâm phạm bản quyền truyền thống.
Tuy nhiên, thách thức đặt ra cho các nhà lập pháp và các chủ thể quyền trong tương lai không chỉ là việc không ngừng nâng cấp độ phức tạp của công nghệ bảo vệ, mà còn là việc tìm kiếm điểm cân bằng giữa một bên là quyền kiểm soát tuyệt đối của chủ sở hữu và một bên là quyền tiếp cận tri thức, thông tin hợp pháp của công chúng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa "lá chắn" công nghệ và "khung khổ" pháp lý thích ứng chính là chìa khóa để đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế sáng tạo trên không gian mạng, nơi mà mọi hành vi xâm phạm có thể diễn ra chỉ sau một "cú click" chuột nhưng cũng có thể bị ngăn chặn bởi chính những dòng mã hóa (code) đầy quyền năng.
[1]. Xem Судариков С.А. Технические меры защиты авторского права и смежных прав в Интернете // Интеллектуальная собственность. Авторское право и смежные права, 2001, N 8, c. 42-50.
[2]. Khái niệm đồng nghĩa với sự bảo hộ pháp lý vượt ra ngoài khuôn khổ quyền tác giả truyền thống. Ví dụ điển hình nhất chính là “bảo hộ pháp lý đối với các biện pháp kỹ thuật” trong các thỏa thuận của WIPO về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong kỷ nguyên số vào năm 1996. Điều khoản của các thỏa thuận này không liên quan đến thời hạn hay nội dung quyền tác giả mà chủ yếu liên quan đến bảo hộ những công nghệ do các chủ thể quyền sử dụng. (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Hiep-uoc-quyen-tac-gia-WCT-1996-cua-WIPO-66846.aspx).
[3]. Kerr I. Сopyright and related rights. To observe and protect? How digital rights management systems threaten privacy and what policy makers should do about it. Intellectual property and Information wealth: Issues and Practices in the Digital Age, Vol. 1. Edited by Peter Yu / Praeger Publishers, 2007, c. 2.